vanban.org

Quyết định 37/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 227 và khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 n…

Xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phạm Thị H. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Phạm Thị H và anh Phạm Ngọc C là vợ chồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Phạm Ngọc C"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 227 và khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 n…
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC LẶC
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2019/HNGĐ- ST
Ngày: 23/10/2019
V/v: Ly hôn, nam nữ chung sống
với nhau như vợ chồng mà không
đăng ký kết hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có.

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Vinh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Điểm.

Ông Phạm Thanh Hùng.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Hà là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

Ngày 23 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 212/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2019 về việc: Ly hôn, nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2019/QĐXX-ST ngày 08 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H - Sinh năm 1966. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Phạm Ngọc C - Sinh năm 1968. (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn TS, xã NS, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và trong đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn là chị Phạm Thị H trình bày: Chị và anh Phạm Ngọc C tự nguyện chung sống với nhau từ ngày 22/5/1989 không đăng ký hết hôn. Lý do chị và anh Phạm Ngọc C không đăng ký kết hôn là vì vợ chồng không hiểu biết pháp luật. Sau khi về chung sống chị và anh C cũng không làm thủ tục đăng ký kết hôn lần nào, chị và anh C sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 20 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẩn là do hai người không thống nhất cách làm ăn và cư sử trong gia đình, mâu thuẩn phát sinh và kéo dài cho đến tháng 5/2019 thì trở nên trầm trọng và hai người đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Ngọc C theo quy định của pháp luật.

Về con cái: Chị và anh C có 01 con chung là Phạm Văn H - Sinh ngày 04/11/1990, cháu H đã trưởng thành trên 18 tuổi, khỏe mạnh, tự lao động nuôi bản thân, nên việc giao nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa anh Phạm Ngọc C trình bày: Anh và chị H tự nguyên chung sống từ năm 1989 không đăng ký kết hôn và kể từ đó đến nay cũng không đăng ký kết hôn lần nào, về nguyên nhân mâu thuẩn như chị H trình bày là đúng. Nay chị Phạm Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con cái: Anh và chị H có 01 con chung như chị H trình bày là đúng, anh nhất trí với đề nghị của chị H, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định.

. Về hôn nhân: Xét lời trình bày của chị H và anh C phù hợp với nhau, đủ cơ sở kết luận chị H và anh C tự nguyện sống chung với nhau từ năm 1989 có đủ điều kiện kết hôn, nhưng không đăng ký kết hôn và kể từ đó đến nay cũng không đăng ký kết hôn lần nào. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh C không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Căn cứ điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc Hội và khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình, tuyên bố không công nhận chị H và anh C là vợ chồng.

Về con cái: Lời trình bày của chị H và anh C về việc không đề nghị Tòa án giải quyết về giao nuôi con thấy rằng: Căn cứ sổ hộ khẩu đủ cơ sở xác định: Chị H và anh C có 01 con chung là Phạm Văn H - Sinh ngày 04/11/1990, cháu H đã trưởng thành trên 18 tuổi khỏe mạnh, tự lao động nuôi bản thân, chị H và anh C không yêu cầu giải quyết về việc giao nuôi con là phù hợp với pháp luật, nên chấp nhận.

. Về tài sản: Chị H và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 227 và khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phạm Thị H.

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Phạm Thị H và anh Phạm Ngọc C là vợ chồng.

Về con cái: Chị Phạm Thị H và anh Phạm Ngọc C có 01 con chung là Phạm Văn H - Sinh ngày 04/11/1990, con đã trưởng thành trên 18 tuổi, khỏe mạnh, tự lao động nuôi bản thân, các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không giải quyết về việc giao nuôi con.

Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2018/0006862 ngày 18/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc. Chấp nhận chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Ngọc C đươc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Phạm Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Ngọc Lặc;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

- Cơ quan THA huyện NgọcLặc;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

Lê Xuân Vinh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Ngọc Lặc;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

- Cơ quan THA huyện NgọcLặc;

- Các đương sự;

- UBND xã Cao Ngọc, huyện Ngọc Lặc;

- Lưu hồ sơ.

Lê Xuân Vinh Nơi nhận:

T/M: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Ngọc Lặc;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

- Cơ quan THA huyện NgọcLặc;

- Các đương sự;

- UBND xã Ngọc Liên, huyện Ngọc Lặc;

- Lưu hồ sơ.

Lê Xuân Vinh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ