- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình - Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Neàng T.
- Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 37/2018/QĐ-PT | An Giang, ngày 13 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Với Hội đồng phiên họp phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp : Ông Nguyễn Văn Sơn
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Thúy Hà
Bà Thái Thị Huyền Trân
Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Phạm Thị Mộng Linh, Thư ký Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Bà Nguyễn Mỹ Duyên -
Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 61/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện TT;
Tòa án nhân dân huyện TT đã căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, để đình chỉ giải quyết vụ án Hôn nhân và Gia đình về việc “Tranh chấp Ly hôn”giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Neàng T, sinh năm 19,..;Cư trú: Ấp TH, xã TL, huyện TB, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Anh Chau Sóc S, sinh năm 19,..;Cư trú: Ấp T, xã CL, huyện TT, tỉnh An Giang.
Tại đơn kháng cáo ngày 16 tháng 8 năm 2018 của chị Neàng T kháng cáo với nội dung: Yêu cầu xem xét tiếp tục giải quyết vụ án cho chị được ly hôn với anh Chau Sóc S, lý do kháng cáo là Tòa án sơ thẩm giải thích kêu chị ký tên rút đơn khởi kiện vì anh S hiện đang ở nước ngoài không giải quyết được, nên chị mới ký tên rút đơn khởi kiện, nhưng qua tìm hiểu chị phát hiện ông S hiện đang sống và làm việc ở Củ Chi Thành phố Hồ Chí Minh, nên chị yêu cầu tiếp tục giải quyết vụ án.
XÉT THẤY
Về hình thức: Đơn kháng cáo của chị Neàng T trong hạn luật định, có đóng tiền tạm ứng án phí kháng cáo, nên được chấp nhận về mặt hình thức;
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Hồ sơ thể hiện đơn xin rút đơn ly hôn do chị Neàng T ký tên và chị Neàng T cũng thừa nhận là có ký tên rút đơn khởi kiện, nên đề nghị Hội đồng giữ nguyên Quyết định đình chỉ của Tòa án nhân dân huyện TT.
Nhận thấy: Theo hồ sơ cấp sơ thẩm thể hiện đơn xin rút đơn ly hôn của chị Neàng T và bà Neàng T cũng thừa nhận có ký tên vào đơn xin rút đơn lý hôn, điều đó đã thể hiện ý chí của chị Neàng T hơn nữa chị Neàng T là người trưởng thành đủ năng lực hành vi dân sự, không bị ai ép buộc, nên Tòa án nhân dân huyện TT căn cứ điểm c khoản 1 điều 217 đình chỉ giải quyết vụ án với lý do nguyên đơn rút đơn khởi kiện là đúng quy định pháp luật, nên kháng cáo của chị Neàng T là không có cơ sở chấp nhận. Nếu chị Neàng T muốn tiếp tục ly hôn thì có quyền làm đơn khởi kiện lại vụ án theo quy định pháp luật.
Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khỏan 1 Điều 148; khoản 1; điểm a khỏan 5 và khỏan 6 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2015, có hiệu lực từ 01/7/2016. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017
QUYẾT ĐỊNH
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Neàng T.
- Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Hôn nhân và Gia đình số: 61/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện TT.
- Bà Neàng T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí phúc thẩm, được khấu trừ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001725 ngày 05/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT, tỉnh An Giang.
Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TANDTC; - VKSND.AG; - TAND huyện; - THADS huyện; - Văn phòng; - Phòng KTNV & THA; - Đương sự “Để thi hành” - Lưu: HS; TDS. | THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP Nguyễn Văn Sơn |