vanban.org

Quyết định 37/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 26/07/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/07/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Hoàng M, chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại.

Tuyên bị cáo Võ Hoàng M, phạm tội: Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Xử phạt bị cáo Võ Hoàng M 02 (hai) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo M chạy xe gây tai nạn - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Hoàng M, chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
TÆNH VÓNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Baûn aùn soá: 37/2018/HSPT
Ngaøy: 26 -7-2018

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN TÆNH VÓNH LONG

- Thaønh phaàn Hội đồng xeùt xöû phuùc thaåm goàm coù:

Thaåm phaùn – chuû toïa phieân toøa: OÂng Nguyễn Văn Hòa

Caùc Thaåm phaùn:

1/ Ông Triệu Quốc Hiếu

2/ Ông Nguyễn Thành Đăng

- Thö kyù phieân toøa: Bà Lưu Thị Nhơn – Thư ký của Toøa aùn nhaân daân tænh Vónh Long.

- Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân tænh Vónh Long tham gia phieân toøa: Bà Nguyễn Thị Hồng Châu - Kieåm saùt vieân.

Ngaøy 26 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toøa aùn nhaân daân tænh Vónh Long xeùt xöû phuùc thaåm công khai vuï aùn hình söï thuï lyù so:á 40/2018/HSPT ngaøy 01/6/2018 ñoái vôùi bò caùo Võ Hoàng M. Do coù khaùng caùo cuûa bị cáo ñoái vôùi baûn aùn hình söï sô thaåm soá: 27/2018/HSST ngaøy 27/4/2018 cuûa Toøa aùn nhaân daân thành phố Vĩnh Long.

Bị cáo có kháng cáo:

Võ Hoàng M, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Số 89, ấp Tân Phú, xã Tân Hòa, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; con ông Võ Văn V (chết) và bà Lê Thị A – 1960; Anh chị em ruột: có một chị gái tên Võ Thị C T; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

Người tham gia tố tụng khác có kháng cáo:

Người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Ngọc T (chết).

1. Bà Nguyễn Yến T - 1955 (mẹ bị hại).

2. Ông Trần Văn M - 1953 (cha bị hại).

Cùng địa chỉ: Tổ 4, khóm Hưng Phú, TT Cái Tàu Hạ, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 20/4/2017, sau khi uống bia với nhóm bạn gồm Trần Phong P, Trần Ngọc T, Trần Minh H và Dương Huỳnh Ngọc T thì Võ Hoàng M cùng nhóm bạn ra về hướng Vĩnh Long - Đồng Tháp. Võ Hoàng M điều khiển xe mô tô 64K3-4709 chở Trần Phong P, chị Trần Ngọc T điều khiển xe mô tô biển số 64L1-5877 đi một mình và Trần Minh H điều khiển xe mô tô 64F8-4163 chở Dương Huỳnh Ngọc T. Khi vừa chạy xuống dốc cầu Huyền Báo đến đoạn 1280Km 01 + 500 thuộc ấp Mỹ Thuận, xã Tân Hội, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long thì Võ Hoàng M cho xe mô tô 64K3-4709 tăng ga vượt bên phải xe mô tô 64L1-5877 của chị T làm cho tay lái bên trái xe 64K3-4709 va chạm với tay lái bên phải xe 64L1-5877 nhưng xe của M không ngã mà vẫn tiếp tục chạy về phía trước còn xe của chị T bị chao đảo và ngã xuống đường, chị T văng ra phía ngoài thì cùng lúc có xe ô tô tải biển số 95C-012.85 do anh Nguyễn Hoàng P điều khiển đi cùng chiều cán qua người làm chị T tử vong.

Kết luận giám định pháp y số 69 ngày 04/5/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Long xác định nguyên nhân tử vong của chị Trần Ngọc T là do choáng mất máu cấp, đa chấn thương.

Lỗi trong vụ án được xác định như sau:

Đối với Võ Hoàng M điều khiển xe mô tô biển số 64K3-4709:

- Điều khiển xe vượt không đúng quy định nên không đảm bảo an toàn (vượt bên phải) vi phạm vào khoản 4 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn giao thông.

- Điều khiển xe mô tô có dung tích trên 50cm3 nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định, vi phạm khoản 9 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ.

Đối với Trần Ngọc T điều khiển xe mô tô biển số 64L1-5877:

- Điều khiển xe mô tô có dung tích trên 50cm3 nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định, vi phạm khoản 9 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ.

- Điều khiển xe mô tô mà trong máu có nồng độ cồn vượt mức quy định (xét nghiệm 136miligam/1 dl máu), vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ.

Lỗi của Trần Ngọc T không phải là nguyên nhân trực tiếp của vụ án.

Đối với Nguyễn Hoàng P điều khiển xe ô tô tải không có lỗi.

Tại bản án sơ thẩm số: 27/2018/HSST ngaøy 27/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, đã xử phạt bị cáo Võ Hoàng M 02 năm 06 tháng tù về tội: Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 11/5/2018, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 11/5/2018 bà Nguyễn Yến T là đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt với lý do bị cáo đã biết rõ hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo không tiền án tiền sự, bị cáo thật thà khai báo, đã khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, bị cáo là trụ cột gia đình nuôi mẹ già, cha bị cáo mất sớm. Trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm ngày 10/5/2018 bị cáo tác động chị ruột bồi thường cho bà Tuyết số tiền 7.000.000đ khắc phục hậu quả, bị cáo thừa nhận án sơ thẩm xử bị cáo tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi mà bị cáo gây ra cho bị hai.

Bà Nguyễn Yến T đại diện hợp pháp của bị hại giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do bị cáo từ trước tới nay chưa có tiền án tiền sự, bị cáo thành thật khai báo, ăn năn hối cãi, đã khắc phục hậu quả cho gia đình bà, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn phải nuôi mẹ già, cha bị cáo mất sớm. Ngày 10/5/2018 gia đình bị cáo đã khắc phục thêm cho gia đình bà số tiền 7.000.000 đồng đã nhận xong, chỉ còn yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp số tiền còn lại là 59.000.000đ.

Chị Võ Thị C T chị ruôt bị cáo không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 7.000.000đ.

Kiểm sát viên nêu quan điểm giải quyết vụ án: sau khi xét hỏi và tranh luận, khẳng định án sơ thẩm xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Phân tích hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng ở cấp phúc thẩm, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo và của người đại diện hợp pháp của bị hại để sửa án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đề nghị xử bị cáo Võ Hoàng M 02 (Hai) năm tù về tội: Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Hoàng M thừa nhận hành vi của bị cáo vào ngày 20/4/2017 sau khi có uống rượu bia bị cáo điều khiển xe moto biển số 64K3 – 4709 chở Trần Phong P, khi vừa chạy xuống dốc cầu Huyền báo đến đoạn 1280km 01 + 500 thuộc ấp Mỹ Thuận, xã Tân Hội, thành phố Vĩnh Long thì bị cáo tăng ga vượt qua bên phải xe moto biển số 64L1 – 5877 của chị T đang điều khiển làm cho tay lái bên trái xe của bị cáo va chạm với tay lái bên phải xe của chị T làm cho xe chị T chao đảo và ngã xuống đường; chị T văng ra phía ngoài cùng lúc có xe oto tải biển số 95C- 012.85 do anh Nguyễn Hoàng P điều khiển cùng chiều cán qua người làm chị T tử vong. Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo ở cơ quan điều tra, với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu có thể hiện trong hồ sơ vụ án. Bị cáo tự khai chứ không ai ép bị cáo khai. Do đó án sơ thẩm tuyên xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội: Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bà Nguyễn Yến T là đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm nghiêm trọng đến quy định về điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, trong khi bị cáo không có giấy phép lái xe, điều khiển xe không đúng quy định không đảm bảo an toàn, trực tiếp là nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn trên. Bị cáo có lỗi, án sơ thẩm xử bị cáo Võ Hoàng M mức án 02 năm 06 tháng tù có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm bị cáo tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại thêm số tiền 7.000.000đ thể hiện sự ăn năn hối cãi của bị cáo. Gia đình bị hại có đơn tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nghĩ nên chấp nhận đơn kháng có của bị cáo M và chấp nhận đơn kháng cáo của bà T đại diện cho bị hại, sữa án sơ thẩm.

Xét việc đề nghị của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo và chấp nhận đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại là phù hợp, nên chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Hoàng M, chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại. Sửa Bản án sơ thẩm số: 27/2018/HSST ngaøy 27/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.

Tuyên bị cáo Võ Hoàng M, phạm tội: Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202 ; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 38 của Bộ Luật Hình sự 1999.

Xử phạt bị cáo Võ Hoàng M 02 (hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2/ Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Võ Hoàng M có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bà Nguyễn Yến T là người đại diện hợp pháp cho bị hại số tiền còn lại là 59.000.000đ (Năm mươi chín triệu đồng).

3/ Án phí hình sự phúc thẩm:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Võ Hoàng M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4/ Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ