- Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Phi C kiện Nguyễn Thị M"
- Tòa quyết gì? Hủy toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 05/2018/QĐST –DS ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương để tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
- Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 364/2018/QĐ-PT | TP. Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Đắc Minh.
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Sáng.
Ông Phan Văn Yên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 05/2018/QĐST –DS ngày 28/5/2018, Toà án nhân dân nhân dân tỉnh Bình Dương đã căn cứ vào khoản 4 Điều 28, khoản 10 Điều 29; các điều 48. 192, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy văn bản công chứng và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phi C, sinh năm 1978.
Địa chỉ: phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn theo Văn bản ủy quyền ngày 12/9/2016: Bà Lê Trần Vân A, sinh năm 1977.
Địa chỉ: phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1948.
Địa chỉ: xã V, thị xã T1, tỉnh Bình Dương.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đoàn Thị T1, sinh năm 1949.
Địa chỉ: phường P, thành phố T, tình Bình Dương.
- Bà Trần Thị H, sinh năm 1970;
- Bà Trần Thị T2, sinh năm 1974;
Cùng địa chỉ: xã V1, huyệnB, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nauyễn Thị N, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Trường, xã Tân Vĩnh H1, thị xã Tân Uvên, tỉnh Bình Dương.
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1984;
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985;
Cùng địa chỉ: xã V, thị xã T1, tỉnh Bình Dương.
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1988;
Địa chỉ: xã T1, huyện U, tỉnh Bình Dương.
- Bà Nguyễn N Minh C, sinh năm 1981;
Địa chỉ: phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Văn phòng Công chứng H2;
Địa chỉ: khu phố 3, phường Uyên H, thị xã T1, tỉnh Bình Dương.
- Ủy ban nhân dân thị xã T1;
Địa chỉ: Phường U1, thị xã T1, tỉnh Bình Dương.
Tại Đơn kháng kháng cáo ngày 08/6/2018, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Lê Trần Vân A đề nghị hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2018/QĐST –DS ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương với lý do Quyết định này không khách quan, không toàn diện, áp dụng sai các quy định pháp luật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Tại Quyết định số 17/QĐ-KNPT-VKS-P9 ngày 19/7/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương kháng nghị Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2018/QĐST –DS ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy Quyết định sơ thẩm với lý do Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án với lý do nguyên đơn chưa đủ điều kiện khởi kiện là không phù hợp với quy định pháp luật.
XÉT THẤY:
Ngày 12/10/2016, ông Nguyễn Phi C có đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị M về việc “tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy văn bản công chứng và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Sau khi thụ lý vụ án, ngày 24/01/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương nhận được Quyết định số 6015/QĐ-UBND ngày 24/11/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố T (sau đây viết là Quyết định số 6015) có nội dung “Thu hồi Giấy khai sinh mang tên Nguyễn Phi C, có năm sinh 1978 được UBND phường P đăng ký lại khai sinh ngày 27/01/2014, số khai sinh: 48, quyển số 01/2014. Lý do: Giấy khai sinh do UBND phường P cấp không đảm bảo quy định pháp luật hộ tịch”. Căn cứ vào Quyết định số 6015, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: ông C không có giấy tờ chứng minh là con của ông X, để đảm bảo điều kiện khởi kiện tranh chấp thừa kế thì nguyên đơn phải khởi kiện vụ án tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con (xác định ông X là cha của ông C) theo quy định tại khoản 4 Điều 28, khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,… chỉ khi nào ông C có chứng cứ chứng minh là con của ông Xẩm thì khi đó ông C mới đủ điều kiện khởi kiện về vụ việc tranh chấp thừa kế là di sản của ông X. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm g khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ giải quyết vụ án với lý do nguyên đơn chưa đủ điều kiện khởi kiện vì chưa có chứng cứ có giá trị pháp lý để chứng minh ông C là con của ông Nguyễn Văn X, là chưa khách quan, toàn diện, chưa đúng quy định pháp luật.
Quyết định số 6015 của Ủy ban nhân dân thành phố T thu hồi Giấy khai sinh của ông C nH không có nội dung nào khẳng định ông C không phải con ông X, việc thu hồi là do cấp Giấy khai sinh không đảm bảo quy định pháp luật hộ tịch, vì vậy tại Điều 2 Quyết định số 6015, Ủy ban nhân dân Thành phố T đã giao Ủy ban nhân dân phường Phú Thọ H2 hướng dẫn ông C lập thủ tục đăng ký lại khai sinh theo quy định.
Mặt khác, trong vụ án này, ông C khởi kiện tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy văn bản công chứng và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó Giấy khai sinh của ông C không phải là chứng cứ duy nhất để xác định ông C có phải là con của ông X hay không, trong hồ sơ vụ án còn có nhiều tài liệu khác có thể làm căn cứ đối chiếu, xác định (như lời trình bày của các đương sự khác, các tài liệu xác minh). Toà án cấp sơ thẩm cũng có thể tiến hành thu thập thêm tài liệu, chứng cứ khác hoặc chờ Ủy ban nhân dân phường Phú Thọ H2 cấp lại giấy khai sinh cho đương sự để củng cố chứng cứ tiếp tục giải quyết vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu không có cơ sở xác định ông C là con của ông X thì Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đương sự.
Từ những phân tích trên, thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Quyết định số 6015, để áp dụng điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ giải quyết vụ án với với lý do ông C không đủ điều kiện khởi kiện là không đúng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Lê Trần Vân A và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là có cơ sở nên được Hội đồng phúc thẩm chấp nhận.
Do được chấp nhận kháng cáo nên bà Lề Trần Vân A không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Hủy toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 05/2018/QĐST –DS ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương để tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
2. Bà Lê Trần Vân A không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, trả lại cho bà Lê Trần Vân A 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0026762 ngày 14/6/2018 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1); - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (1); - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương (1); - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương (1); - Nguyên đơn (1); - Bị đơn (1); - Người liên quan (10); - Lưu hồ sơ vụ án (1), 18b (NTBP). | Nguyễn Đắc Minh |