vanban.org

Quyết định 36/QĐ-TA

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 11/03/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đ được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "36/QĐ-TA"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG
Số: 36/QĐ-TA
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Long Xuyên, ngày 11 tháng 3 năm 2020

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Trang

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Đức Anh.

Ngày 11 tháng 3 năm 2020, tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 26/QĐ-TA ngày 02 tháng 3 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Đ

Giới tính: Nam.

Sinh năm: 1990.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 6/12.

Nguyên quán: L, An Giang.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Chỗ ở hiện nay: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 10/12/2018, Ủy ban nhân dân phường M ban hành quyết định số 434A/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Ngày 10/3/2019, Ủy ban nhân dân phường M cấp Giấy chứng nhận số 434A/GCN-UBND về việc đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Con ông T1 và bà A.

Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Tô Thanh Tùng – Chuyên viên phòng Lao động – Thương binh – Xã hội thành phố Long Xuyên.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên: Ông Kiều Văn Liêu – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 10/12/2018, Ủy ban nhân dân phường M ban hành quyết định số 434A/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Đ thời gian 3 tháng. Đến ngày 10/3/2019, Ủy ban nhân dân phường M cấp Giấy chứng nhận số 434A/GCN-UBND về việc đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại tại địa phương.

Hồi 07 giờ 15 phút, ngày 07/01/2020, Đ bị Công an phường M mời làm việc cho thử test tìm chất ma túy. Kết quả Đ dương tính với Methamphetamine nên Ủy ban nhân dân phường M ban hành Quyết định số 13/QĐ-UBND ngày 07/01/2020, giao Đ cho Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang để cắt cơn giải độc.

Ngày 12/01/2020, Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang có phiếu trả lời kết quả xác định Đ có nghiện Methamphetamine. Ngày 20/02/2020, Chủ tịch ủy ban nhân dân phường M ra đề nghị số 29/ĐN-UBND, đề nghị đưa Đ đi cai nghiện ma túy bắt buộc gửi Phòng Tư pháp thành phố L để kiểm tra tính pháp lý.

Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Long Xuyên đã gửi Văn bản số 37/PLĐ-TBXH ngày 25/02/2020, cùng toàn bộ hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang đến Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên để xem xét giải quyết theo quy định.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Long Xuyên trình bày nội dung đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.

Căn cứ khoản 3 Điều 2, Điều 95, Điều 96, Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 3 Nghị định 221/2-13/NĐ – Cp ngày 30/12/2013 của Chính phủ đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang đối với Đ thời hạn 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên sau khi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Đ. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Long Xuyên trong việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.

Đ khai nhận: Bản thân sử dụng ma túy từ năm 2009, ma túy sử dụng là ma túy đá. Ngày 10/12/2018, Ủy ban nhân dân phường M ban hành quyết định số 434A/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời gian 3 tháng. Đến ngày 10/3/2019, Ủy ban nhân dân phường M cấp Giấy chứng nhận số 434A/GCN-UBND về việc đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại tại địa phương. Ngày 05/01/2020, Đ có sử dụng ma túy đá đến ngày 07/01/2020 thì bị phát hiện như trình bày của Phòng Lao động – Thương binh – Xã hội thành phố Long Xuyên, Đ không có ý kiến gì đối với nội dung đề nghị của cơ quan đề nghị.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động – Thương binh – Xã hội thành phố Long Xuyên đối với Đ đã thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ vào phiếu xét nghiệm ngày 07/01/2020 của Trung tâm Y tế thành phố L; Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 12/01/2020 của Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang cùng với lời khai nhận của Đ. Đã có đủ căn cứ để xác định Đ nghiện ma túy. Do đó, Trưởng phòng lao động – Thương binh và xã hội đề nghị xử lý hành chính đối với Đ bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ nên được chấp nhận.

Người bị đề nghị có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 10/12/2018, Ủy ban nhân dân phường M ban hành quyết định số 434A/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Đ thời gian 3 tháng. Đến ngày 10/3/2019, Ủy ban nhân dân phường M cấp Giấy chứng nhận số 434A/GCN-UBND về việc đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại tại địa phương nên Đ bị áp dụng tình tiết tăng nặng là “tái phạm” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Tại phiên họp người bị đề nghị chưa thật sự hối lỗi về hành vi của bản thân nên không xem xét cho Đ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Vì các lẽ trên

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 7, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, 96, 103, 104, 105, 106 và Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 Nghị định số: 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ - CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, khoản 1 Điều 5 Thông tư số: 05/2018/TT - BCA ngày 07/02/2018 của Bộ Công an quy định việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, các Điều 16, 22, 23, 24, 30, 31 Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Đ được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Phòng Lao động – Thương binh – Xã hội thành phố Long Xuyên có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh – Xã hội thành phố Long Xuyên phối hợp với Công an thành phố Long Xuyên.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ