- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thái Anh - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thái A phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2023/HS-ST Ngày 30-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Thọ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Hải.
2. Ông Huỳnh Văn Kiều.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Công – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thái A, sinh năm: 1995; tại Đồng Tháp.
Nơi thường trú: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đ.
Nơi ở hiện nay: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12.
Con ông: Lê Thái T; Con bà: Lê Thị N Vợ: Bùi Thị Tú N, sinh năm 1998; Con: 02 người con; lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 26/01/2022 bị Ủy ban nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định số 157/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính 40.000.000 đồng về hành vi “Vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu với số lượng từ 500 bao đến dưới 1000 bao”; Hiện bị cáo chưa nộp phạt.
- Tạm giữ; Tạm giam: Không.
- Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thái A là người có một tiền sự về hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu. Thái A khai nhận: Khoảng 02 giờ 15 phút, ngày 17/12/2022, Thái Anh được một người phụ nữ tên Thúy (không rõ nhân thân) thuê vận chuyển số lượng 1.490 bao thuốc lá điếu nhập lậu, loại 01 bao 20 điếu gồm 500 bao thuốc lá nhãn hiệu JET, 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SCOTT và 490 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO đựng trong bao tải và túi nylon màu đen được Thúy để sẵn trên xe mô tô Yamaha Exciter, màu xanh đen bạc, biển số 66P1–809.78. Thái A nhận xe và đồng ý vận chuyển số thuốc lá nói trên từ cửa khẩu Thường Phước thuộc huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đến ngã ba An Thái Trung thuộc xã An Hữu, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang để giao cho một người phụ nữ (không rõ nhân thân). Theo thỏa thuận, sau khi giao được thuốc lá và quay về trả xe thì Thái A nhận được tiền công vận chuyển là 300.000 đồng từ Thúy. Đến khoảng 03 giờ 50 phút cùng ngày, khi Thái A điều khiển xe mô tô đang vận chuyển số thuốc lá nói trên đến đường Nguyễn Huệ thuộc Tổ 22, khóm Mỹ Phú, phường Mỹ Phú, thành phố Cao Lãnh thì bị Công an phường Mỹ Phú đang đi tuần tra phát hiện và bắt quả tang. Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên Công an phường Mỹ Phú đã tiến hành lập biên bản vụ việc và chuyển toàn bộ hồ sơ cùng tang vật, phương tiện có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh để giải quyết theo thẩm quyền.
Trong quá tình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trên, phù hợp với biên bản vụ việc, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại cáo trạng số: 43/CT-VKS-TPCL ngày 12 tháng 5 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố bị cáo Lê Thái A về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm e khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Thái A phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thái A mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù.
Bị cáo không có tài sản riêng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị Tòa án không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.
Về xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thái A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với phù hợp với biên bản vụ việc và vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Lê Thái A là người có một tiền sự về hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu. Vào khoảng 03 giờ 50 phút ngày 17/12/2022, Lê Thái A có hành vi vận chuyển 1.490 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu (loại 01 bao 20 điếu) gồm các loại HERO, JET và SCOLT trên xe mô tô biển số 66P1-809.78 từ huyện Hồng Ngự về đến đoạn đường Nguyễn Huệ thuộc Tổ 22, khóm Mỹ Phú, phường Mỹ Phú, thành phố Cao Lãnh thì bị lực lượng Công an kiểm tra và phát hiện bắt quả tang.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Bị cáo là người đã thành niên, đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi với lỗi cố ý; trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh lực sản xuất, kinh doanh, thương mại. Bị cáo là người có 01 tiền sự về hành vi “Vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu”, chưa nộp phạt nhưng tiếp tục có hành vi vận chuyển 1.490 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 500 bao thuốc lá điếu hiệu JET, 500 bao thuốc lá điếu hiệu SCOTT và 490 bao thuốc lá điếu hiệu HERO từ huyện Hồng Ngự về đến đoạn đường Nguyễn Huệ thuộc Tổ 22, khóm Mỹ Phú, phường Mỹ Phú, thành phố Cao Lãnh thì bị lực lượng Công an kiểm tra và phát hiện bắt quả tang lúc vào lúc 03 giờ 50 phút ngày 17/12/2022;
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo đã phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm e khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự như Cáo trạng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
e) Hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi qưy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh lực sản xuất, kinh doanh, thương mại mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có 01 tiền sự về hành vi “Vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu”, chưa nộp phạt nhưng tiếp tục có hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu. Do đó, cần áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có thời gian học tập, cải tạo, trở thành người tốt có ích cho xã hội, đồng thời, cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình có hoàn cảnh khó khăn đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành gồm: 1.490 (một nghìn bốn trăm chín mươi) bao thuốc lá điếu các nhãn hiệu JET, HERO và SCOTT còn nguyên chưa qua sử dụng, được để trong các bao tải và dán kín lại, bên ngoài dán niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ ghi dòng chữ Công an phường Mỹ Phú - Công an thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp và chữ ký ghi họ tên người vi phạm Lê Thái Anh.
Các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ tên Thúy mà bị cáo khai đã thuê bị cáo vận chuyển số thuốc lá nói trên tại huyện Hồng Ngự, do không rõ nhân thân, lại lịch nên chưa đủ căn cứ xử lý.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu xanh đen bạc, biển số 66P1-809.78, quá trình điều tra đã thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển xe mô tô này đến Công an thành phố Cao Lãnh xử lý theo quy định pháp luật, nên không xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tại phiên tòa, như đã phân tích nêu trên là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Lê Thái A phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Lê Thái A 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 1.490 (một nghìn bốn trăm chín mươi) bao thuốc lá điếu các nhãn hiệu JET, HERO và SCOTT, còn nguyên chưa qua sử dụng, được để trong các bao tải và dán kín lại, bên ngoài dán niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ ghi dòng chữ Công an phường Mỹ Phú - Công an thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp và chữ ký ghi họ tên người vi phạm Lê Thái A.
(Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/5/2023).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Thái A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TPCL; - VKDND tỉnh Đồng Tháp; - CQĐT Công an TPCL; - CQTHAHS Công an TPCL; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phú Thọ |