vanban.org

Quyết định 36/2023/DSPT — Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 31/03/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của cụ Đỗ Thị C. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Kháng nghị số: 184/QĐ-VKS-DS Ngày 10/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện PC. Chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Đỗ L. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2022/DS-ST ngày 26/10/2022 của Tòa án …

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Đỗ Thị C về việc yêu cầu Tòa án hủy ½ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được xác lập, ký kết và được UBND xã CH, huyện PC chứng thực ngày 31/12/2020 giữa bên tặng cho là cụ Đỗ Thị C, ông Nguyễn T1, bà Trương Thị H với bên được tặng cho là anh Nguyễn Đỗ L và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn Đỗ Thị C - Bị đơn Nguyễn Đỗ Lượng"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của cụ Đỗ Thị C. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Kháng nghị số: 184/QĐ-VKS-DS Ngày 10/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện PC. Chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Đỗ L. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2022/DS-ST ngày 26/10/2022 của Tòa án …
  • Căn cứ chính? Điều 106 Luật Đất đai; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 130 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/DSPT
Ngày: 31/3/2023
V/v tranh chấp hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Phương.

- Các Thẩm phán:

Bà Võ Thị Hồng Thu.

Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định: Bà Lê Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 223/2022/TLPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2022/LĐ-ST ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện PC bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 46/2023/QĐ-PT ngày 15 tháng 03 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Cụ Đỗ Thị C; cư trú tại: Thôn C, xã C, huyện PC, tỉnh BĐ.

Đại diện hợp pháp của cụ C: Bà Trương Thị H; cư trú tại: Thôn C, xã C, huyện PC, tỉnh BĐ là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 15/12/2021); có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đỗ L; cư trú tại: Thôn C, xã C, huyện PC, tỉnh BĐ; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn T; có mặt.

2. Bà Trương Thị H; có mặt.

3. Chị Nguyễn Thị Thanh Th.

Cùng cư trú tại: Thôn C, xã C, huyện PC, tỉnh BĐ.

Đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thanh Th: Bà Trương Thị H là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 07/04/2022).

4. Bà Nguyễn Thị Tr; cư trú tại: Thôn C, xã C, huyện PC, tỉnh BĐ; có mặt.

5. Bà Nguyễn Thị N; cư trú tại: Thôn Gi, xã C, huyện PC, tỉnh BĐ; có mặt.

6. Chị Nguyễn Thị Xuân Ph; cư trú tại: Thôn C, xã C, huyện PC, tỉnh BĐ; có mặt.

7. Chị Nguyễn Thị Ng; cư trú tại: Ấp T, xã B, huyện X, tỉnh BT.

8. Chị Nguyễn Thị L; cư trú tại: Thôn C, xã C, huyện PC, tỉnh BĐ; có mặt.

Đại diện hợp pháp của chị Ng, chị L: Bà Nguyễn Thị Tr; cư trú tại: Thôn C, xã C, huyện PC, tỉnh BĐ; có mặt là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 19/8/2022).

- Người kháng cáo: Bà Đỗ Thị C là nguyên đơn, anh Nguyễn Đỗ L là bị đơn trong vụ án.

- Cơ quan kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện PC.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, bà Trương Thị H trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số hiệu 187 tờ bản đồ số 01, diện tích 837m2 (nay là thửa 112 tờ bản đồ 30 – bản đồ đo đạc chính quy) tại Thôn C, xã C, huyện PC, tỉnh BĐ là do cụ Đỗ Thị C khai hoang đất công. Khi cụ Nguyễn Ch (chồng cụ C) còn sống, vợ chồng cụ C xây dựng một ngôi nhà tạm mái tranh, vách đất để ở. Năm 1972 cụ C hy sinh, vì hoàn cảnh chiến tranh, ngôi nhà bị bom đạn tàn phá nên sau ngày đất nước giải phóng cụ C phải xây dựng lại nhà tranh, vách đất để cụ và các con có chỗ ở. Năm 1984, ông Nguyễn Văn T (con trai cả của vợ chồng cụ C) kết hôn với bà Nguyễn Thị Tr. Vì ngôi nhà chật hẹp, bất tiện cho sinh hoạt, giữa cụ C với bà Trà có sự xung đột mẹ chồng, nàng dâu nên cụ C giao toàn bộ ngôi nhà gắn liền với thửa đất nêu trên cho vợ chồng ông T, bà Tr ở, còn cụ C đến vùng đất vườn dừa ba lợi ích xây dựng nhà riêng ở cùng các con là bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn T1. Năm 1989, ông T chuyển cả gia đình vào Phan Rí, Bình Thuận sinh sống, làm nghề biển. Khi Nhà nước có chủ trương đăng ký, kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ C đã đăng ký, kê khai thửa đất này cho hộ gia đình cụ C và được UBND huyện PC, tỉnh BĐ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình cụ C vào năm 1998. Tại thời điểm cân đối giao quyền sử dụng đất, hộ gia đình cụ C có 4 nhân khẩu gồm: Cụ Đỗ Thị C (chủ hộ), vợ chồng bà là ông Nguyễn T1, Trương Thị H và con của vợ chồng bà là chị Nguyễn Thị Thanh Th.

Năm 2000, ông T chuyển cả gia đình về quê sinh sống, được sự đồng ý của cụ Cảnh, vợ chồng ông T đã bỏ tiền ra xây dựng ngôi nhà kiên cố trên thửa đất này vào năm 2004. Còn cụ C và vợ chồng bà đến chiếm thửa đất công có tục danh là Bàu Dỡ xây dựng nhà ở riêng. Khoảng năm 2013 cụ C chuyển về sống chung với vợ chồng ông T. Ngày 14/6/2020 ông Nguyễn Văn T đột ngột qua đời. Sau khi ông Trắp chết, cụ C và vợ chồng bà thấy rằng, anh Nguyễn Đỗ L là con trai duy nhất của vợ chồng ông T nên sau này anh L phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cụ C lúc tuổi già và thờ cúng ông bà, tổ tiên. Do vậy, cụ C đã tổ chức một cuộc họp nội bộ gia đình có sự tham gia vợ chồng bà (ông T1, bà H), bà Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Đỗ L. Theo đó, cụ C và vợ chồng bà đã đặt ra 02 điều kiện để ký hợp đồng tặng cho thửa đất nêu trên cho anh L: Điều kiện thứ nhất là trước khi ký kết hợp đồng tặng cho, anh L phải giao cho vợ chồng bà (ông T1, bà H) 200.000.000 đồng, giao cho bà Nguyễn Thị N (con của cụ C, cụ Ch) 50.000.000 đồng và giao cho cụ C 50.000.000 đồng. Điều kiện thứ 2 là: Sau khi được tặng cho quyền sử dụng thửa đất, anh L phải có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cụ C đến khi cụ qua đời và phải có nghĩa vụ thờ cúng ông bà, tổ tiên. Anh L đã đồng ý với 02 điều kiện nêu trên và đã giao cho vợ chồng bà 200.000.000 đồng, giao cho bà N 50.000.000 đồng và giao cho cụ C 50.000.000 đồng vào ngày 31/12/2020 tại UBND xã CH. Thực tế, cụ C không nhận 50.000.000 đồng mà tặng cho lại anh L. Ngay sau khi giao nhận tiền xong, cán bộ Tư pháp xã CH đã lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo yêu cầu của bên tặng cho, các bên đã ký, điểm chỉ vào 04 bản hợp đồng và được UBND xã CH, huyện PC chứng thực hợp đồng cùng ngày. Sau khi hợp đồng được chứng thực, không hiểu sao anh L đã liên hệ với cơ quan có thẩm quyền chỉnh sửa nội dung hợp đồng ở trang thứ 2, đóng các dấu treo của UBND xã CH vào vị trí chỉnh sửa và chỉnh sửa luôn ngày chứng thực hợp đồng từ ngày 31/12/2020 chỉnh sửa thành ngày 04/5/2021. Cụ C vẫn tiếp tục ở chung nhà với bà Trà (vợ ông T) và vợ chồng anh L trên thửa đất đã tặng cho. Tuy nhiên, quá trình sống chung, bà Trà đã có hành vi ngược đãi cụ C bằng cách xua đuổi cụ C ra khỏi nhà. Mặc dù vợ chồng anh L không có hành vi ngược đãi cụ C, nhưng bản thân anh L không hề có phản ứng gì, đồng nghĩa là anh L đã đồng thuận với việc làm của bà Tr. Từ đó cụ C đã bỏ nhà ra đi, đến nhà vợ chồng bà ở cho đến nay.

Như vậy, anh L đã không thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng cụ C là vi phạm điều kiện thứ 2 của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên. Do vậy, bà C khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết: Hủy ½ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho là cụ C và vợ chồng bà với bên được tặng cho là anh L, buộc anh L phải trả lại cho cụ Cảnh ½ diện tích của thửa đất ở vị trí phía Bắc của thửa đất có diện tích 330,8m2 (trong đó có 51,4m2 đất ở và 279,25m2đất vườn), giới cận: phía Đông giáp đường ven biển, phía Bắc giáp nhà và đất ông Lương Văn T2, phía Tây giáp nhà và đất của ông Lợi, phía Nam giáp phần đất có ngôi nhà của vợ chồng ông T, bà Trà và ngôi nhà của vợ chồng anh L, chị Ph. Phần diện tích đất còn lại ở vị trí phía Nam gắn liền với 02 ngôi nhà nêu trên giao cho anh L được trọn quyền sử dụng.

Với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà H không có tranh chấp hoặc yêu cầu gì trong vụ án này, chỉ yêu cầu Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ C.

Bị đơn anh Nguyễn Đỗ L trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số hiệu 187 tờ bản đồ số 01, diện tích 837m2 (nay là thửa 112 tờ bản đồ số 30) tại Thôn C, xã C, huyện PC, tỉnh BĐ là do bà nội anh là cụ Đỗ Thị C và cha anh là ông Nguyễn Văn T khai hoang đất công trước năm 1975 và cùng nhau xây dựng một ngôi nhà tranh, vách đất ở chung. Năm 1982 cha anh là ông T kết hôn với mẹ anh là bà Nguyễn Thị Tr, do diện tích sử dụng của ngôi nhà quá chật hẹp nên cụ C giao ngôi nhà này cho cha mẹ anh ở, còn cụ C đến một thửa đất khác có tục danh là đất Vườn dừa (cùng thôn) để làm ngôi nhà khác ở riêng. Vì ngôi nhà tranh, vách đất bị mục nát nên cha mẹ anh sữa chữa, tôn tạo nhiều lần để gia đình có chỗ ở. Năm 1991, cả gia đình anh chuyển vào Phan Rí, Bình Thuận sinh sống, thuận tiện cho nghề làm biển nên ngôi nhà này đóng cửa một thời gian, sau đó cho người khác thuê ở. Khi Nhà nước có chủ trương đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất, cụ C thông báo cho cha mẹ anh về địa phương làm thủ tục kê khai, đăng ký ruộng đất, nhưng vì lo làm biển và không hiểu biết chính sách, pháp luật về đất đai nên cha mẹ anh không về kịp thời. Vì vậy, cụ C đã kê khai, đăng ký thửa này cho hộ gia đình cụ C và đã được UBND huyện PC cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 07/10/1998; số vào sổ cấp GCN: 255 QSDĐ/E15.

Mặc dù thửa đất nêu trên đã được UBND huyện PC cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình cụ C vào năm 1998 (đổi sổ năm 2004), nhưng toàn bộ nhà cửa, cây cối, tài sản khác trên đất là của cha mẹ anh và của vợ chồng anh tạo lập. Hiện nay trên thửa đất này có 02 ngôi nhà: 01 ngôi nhà của cha mẹ anh xây dựng năm 2004 và 01 ngôi nhà do vợ chồng anh xây dựng năm 2017 (đã bị giải tỏa mở đường một phần). Trước khi ông T qua đời, giữa cụ C và vợ chồng ông T1 đã có ý định làm thủ tục chuyển quyền sử dụng thửa đất này cho cha mẹ anh đứng tên. Tuy nhiên, do cha anh đột ngột qua đời vào ngày 14/6/2020 nên cụ C đã tổ chức họp nội bộ gia đình để làm Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng thửa đất này cho anh. Do một phần diện tích thửa đất này nằm trong quy hoạch bị thu hồi để mở Đường ven biển (diện tích thu hồi là 175,4m2, trong đó thu hồi 97,20m2 đất ở và 78,20m2 đất trồng cây hàng năm khác), vợ chồng ông T1, bà H đặt điều kiện, anh phải giao cho vợ chồng ông T1 200.000.000 đồng thì vợ chồng ông T1 mới đồng ý ký vào Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo nguyện vọng của cụ C. Tháng 8/2020, Nhà nước chi trả tiền bồi thường giải phóng mặt bằng, cụ C nhận tiền đền bù tổng cộng là 817.002.150 đồng, sau đó giao lại cho vợ chồng anh 345.106.750 đồng giá trị một phần ngôi nhà của vợ chồng anh bị tháo dỡ. Ngày 31/12/2020, anh dùng nguồn tiền này để giao cho vợ chồng ông T1 200.000.000 đồng, giao cho cụ C 50.000.000 đồng và giao cho cô ruột anh là bà Nguyễn Thị N 50.000.000 đồng. Cùng ngày, cán bộ Tư pháp xã CH lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo mẫu, cụ C, vợ chồng ông T1, bà H ký vào mục bên tặng cho; anh ký vào mục bên được tặng cho và hợp đồng này đã được UBND xã CH, huyện PC chứng thực cùng ngày. Ngày 10/5/2021, anh đã hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất tại Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh huyện PC, tỉnh BĐ. Anh không biết lý do gì cụ C tự ý bỏ nhà ra đi, đến nhà vợ chồng ông T1, bà H ở. Vợ chồng anh và mẹ anh (bà Tr) không có hành vi ngược đãi, đuổi bà C ra khỏi như bà H trình bày.

Nếu cụ C có nguyện vọng xây nhà ở riêng trên thửa đất này thì anh sẵn sàng bỏ tiền ra xây dựng một ngôi nhà mới để cụ ở riêng và anh sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng cụ cho đến khi qua đời. Vì vậy, anh không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Thanh Th là bà Trương Thị H trình bày:

Tại thời điểm các bên ký kết Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thì bên tặng cho là cụ C và vợ chồng bà hoàn toàn không biết rõ khi Nhà nước cân đối giao quyền sử dụng đất sản xuất cho hộ gia đình cụ C có định suất đất của con gái bà là chị Nguyễn Thị Thanh Th hay không. Do vậy, khi ký kết hợp đồng tặng cho nêu trên không có sự tham gia của chị Th và bên tặng cho cũng không có ai thông qua ý kiến của chị Th. Sau này xảy ra tranh chấp thì ông T1 liên hệ đến UBND xã CH để tìm hiểu thì vợ chồng bà mới biết rằng tại thời điểm cân đối giao quyền sử dụng đất, hộ gia đình bà C được Nhà nước cân đối giao quyền sử dụng đất sản xuất cho 04 nhân khẩu, trong đó có chị Nguyễn Thị Thanh Th. Như vậy, việc các bên tặng cho thửa đất nêu trên đã xâm phạm đến quyền lợi của chị Th.

Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C thì chị Thạo không có tranh chấp gì trong vụ án này, đồng ý cho toàn bộ định suất đất của mình trong thửa đất này cho cụ C. Còn nếu Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ C, thì chị Thạo yêu cầu Tòa án xem xét quyền lợi của mình trong thửa đất trên.

Ông Nguyễn T1 trình bày:

Ông thống nhất toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của mẹ ông là cụ Cảnh và lời trình bày của vợ ông là bà H. Với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, ông không có tranh chấp hoặc yêu cầu gì trong vụ án này, nhưng đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của mẹ ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tr, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Ng, chị Nguyễn Thị L trình bày:

Bà và chị Ng, chị L thống nhất với toàn bộ nội dung lời trình bày của bị đơn anh Nguyễn Đỗ L về nguồn gốc thửa đất hiện các bên đang tranh chấp hợp đồng và nguồn gốc tài sản hiện có trên đất. Mặc dù từ năm 1984 đến nay, vợ chồng bà là người quản lý sử dụng thửa đất này, nhưng do không hiểu biết về pháp luật nên vợ chồng bà không đăng ký, kê khai để được cấp quyền sử dụng đất. Cụ C đã tự ý kê khai, đăng ký thửa đất này cho hộ gia đình cụ C và được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1998. Năm 2004 vợ chồng bà trở về địa phương, biết được việc bà C đã đăng ký, kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng vì nghĩ rằng là mẹ con với nhau, cụ C đang sống chung với vợ chồng bà nên vợ chồng bà không có khiếu nại hoặc tranh chấp gì. Thời điểm cụ C và vợ chồng ông T1 xác lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thì chồng bà (ông Trắp) đã chết. Ngoài ngôi nhà của vợ chồng bà được xây dựng lại vào năm 2004 thì trên thửa đất này năm 2017 vợ chồng anh L cũng xây dựng 01 ngôi nhà ở riêng. Vợ chồng bà có 03 người con nhưng 02 người con gái (chị Ng, chị L) đã lập gia đình, vào tỉnh Bình Thuận lập nghiệp. Do vậy, bà nghĩ rằng việc cụ C và vợ chồng ông T1, bà Hồng xác lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất chẳng qua là một thủ tục sang tên để anh L đứng tên chủ quyền thửa đất này. Đến lúc tuổi già thì bà sẽ ở chung với vợ chồng anh L nên bà cũng không thắc mắc, khiếu nại gì về việc tặng cho nêu trên. Việc cụ C và bà H cho rằng bà đã có hành vi ngược đãi, đuổi cụ C ra khỏi nhà là hoàn toàn bịa đặt với mục đích là khởi kiện để đòi lại đất. Bà, chị Ng, chị L, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà C và không có tranh chấp gì với anh L. Ngôi nhà và tài sản của vợ chồng bà đang tồn tại trên thửa đất này thì mẹ con bà tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà thống nhất toàn bộ nội dung lời trình bày của bị đơn anh Nguyễn Đỗ L về nguồn gốc thửa đất hiện các bên đang tranh chấp hợp đồng tặng cho. Trước khi các bên ký kết hợp đồng tặng cho thì mẹ bà (cụ C) đã tổ chức họp nội bộ gia đình, vợ chồng ông T1, bà H đặt ra điều kiện để ký hợp đồng tặng cho thì anh L đã thực hiện xong. Anh L đã giao cho vợ chồng ông T1 200.000.000 đồng, giao cho bà và cụ C mỗi người 50.000.000 đồng tại UBND xã CH, huyện PC. Nay bà không có tranh chấp gì hoặc yêu cầu gì trong vụ án này.

Chị Nguyễn Thị Xuân Ph trình bày:

Chị là vợ của anh Nguyễn Đỗ L. Chị thống nhất toàn bộ lời trình bày và ý kiến của anh Lượng đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2022/DS-ST ngày 26/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện PC đã quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Đỗ Thị C về việc yêu cầu Tòa án hủy ½ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được xác lập, ký kết và được UBND xã Cát Hải, huyện PC chứng thực ngày 31/12/2020 giữa bên tặng cho là cụ Đỗ Thị C, ông Nguyễn T1, bà Trương Thị H với bên được tặng cho là anh Nguyễn Đỗ L và bác yêu cầu của cụ C buộc anh L phải trả lại cho hộ gia đình cụ C 330,8m2 (trong đó có 51,4m2 đất ở và 279,25m2 đất vườn thừa) ở vị trí phía Bắc thuộc thửa đất số hiệu 187 tờ bản đồ số 01 – 1995 (nay là thửa 112 tờ bản đồ 30 – bản đồ đo đạc chính quy) diện tích 661,6m2 tại Thôn C, xã C, huyện PC, tỉnh BĐ.

Buộc anh Nguyễn Đỗ L phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thanh Th ½ giá trị 139,7m2 đất trồng cây hàng năm khác là 244.475.000 đồng.

Buộc cụ Đỗ Thị C, ông Nguyễn T1, bà Trương Thị H phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thanh Th ½ giá trị 139,7m2 đất trồng cây hàng năm khác là 244.475.000 đồng, nhưng được chia phần mỗi người phải bồi thường cho chị Thạo 81.491.600 đồng.

Anh Nguyễn Đỗ L được trọn quyền sử dụng hợp pháp thửa đất số hiệu 112 tờ bản đồ 30 – bản đồ đo đạc chính quy, diện tích 661,6m2 (trong đó có 102,8m2 đất ở và 558,8m2 đất vườn) tại thôn Thôn C, xã C, huyện PC, tỉnh BĐ sau khi bồi thường giá trị đất cho chị Nguyễn Thị Thanh Thạo 244.475.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 31/10/2022, cụ Đỗ Thị C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất xác lập và được UBND xã CH, huyện PC chứng thực ngày 31/12/2020, buộc anh Nguyễn Đỗ L phải trả lại cho cụ C và các thành viên trong hộ gia đình cụ C toàn bộ tài sản đã tặng cho. Ngày 08/11/2023, đại diện theo ủy quyền của cụ Đỗ Thị Cảnh là bà Trương Thị H kháng cáo bổ sung yêu cầu cấp phúc thẩm tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất xác lập và được UBND xã CH, huyện PC chứng thực ngày 31/12/2020 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; kiến nghị UBND huyện PC thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Văn phòng Đăng ký đất đai Chi nhánh huyện PC đăng ký biến động quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Đỗ L vào ngày 10/5/2021.

Ngày 03/11/2022, anh Nguyễn Đỗ L kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Yêu cầu cấp phúc thẩm xác minh thu thập chứng cứ để làm rõ hộ gia đình cụ Đỗ Thị C tại thời điểm cấp đất có bao nhiêu nhân khẩu, có định suất đất của chị Nguyễn Thị Thanh Th hay không và tiến hành thành lập Hội đồng định giá lại giá trị quyền sử dụng đất theo thị trường để xét xử vụ án công bằng, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh.

Ngày 10/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện PC ra Quyết định số: 184/QĐ-VKS-DS kháng nghị phúc thẩm bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc anh Nguyễn Đỗ L phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thanh Th 488.950.000 đồng. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BĐ rút toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện PC.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về Tố tụng: Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Thẩm phán không gửi một số tài liệu, chứng cứ được thu thập tại cấp phúc thẩm về hộ khẩu của chị Nguyễn thị Thanh th cho Viện kiểm sát.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) đình chỉ xem xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện PC. Không chấp nhận kháng cáo của cụ Đỗ Thị C. Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Nguyễn Đỗ L sửa bản án sơ thẩm, buộc các bên thanh toán giá trị đất cho chị Thạo theo giá trị đã định giá lại ngày 03/3/2023 và sửa bản án sơ thẩm về phần án phí cũng như chi phí tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của cụ Đỗ Thị C, HĐXX thấy rằng:

Đối với yêu cầu tuyên hủy, tuyên vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Đỗ Thị C, ông Nguyễn T1, bà Trương Thị H với anh Nguyễn Đỗ L xác lập và được UBND xã CH, huyện PC chứng thực ngày 31/12/2020 và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, thì mặc dù trong đơn khởi kiện cụ cảnh có yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, nhưng tại Biên bản lấy lời khai ngày 05/01/2022 và trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, cụ Đỗ Thị C chỉ yêu cầu hủy một phần hợp đồng và yêu cầu anh L phải giao lại ½ diện tích đất cho hộ gia đình cụ. Do các bên đương sự không ai có yêu cầu hủy toàn bộ hợp đồng hoặc tuyên bố hợp đồng vô hiệu nên Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xem xét giải quyết đối với yêu cầu hủy ½ hợp đồng của cụ C mà không xem xét, giải quyết hủy toàn bộ hợp đồng hoặc tuyên bố hợp đồng vô hiệu là đúng quy định tại Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phạm vi xét xử phúc thẩm thì tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định: “ Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.”. Xét thấy các yêu cầu trên của cụ C là vượt quá phạm vi yêu cầu, phạm vi xét xử phúc thẩm nên kháng cáo về phần này của cụ C không được HĐXX chấp nhận.

Đối với yêu cầu Tòa án kiến nghị UBND huyện PC thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Văn phòng Đăng ký đất đai Chi nhánh huyện PC đăng ký biến động quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Đỗ L vào ngày 10/5/2021, thì theo quy định tại Điều 106 Luật đất đai năm 2013, Tòa án không có chức năng, nhiệm vụ kiến nghị thu hồi và kiến nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của đương sự. Hơn nữa, theo hướng dẫn tại tiểu mục 2 Mục II Công văn số: 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính thì trong vụ án này Tòa án không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tham gia tố tụng và không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người nhận chuyển quyền. Do đó kháng cáo về phần này của cụ C không được HĐXX chấp nhận.

Xét kháng cáo của anh Nguyễn Đỗ L, HĐXX thấy rằng: Anh Nguyễn Đỗ L yêu cầu cấp phúc thẩm xác minh thu thập chứng cứ để làm rõ hộ gia đình cụ Đỗ Thị C tại thời điểm cấp đất có bao nhiêu nhân khẩu, có định suất đất của chị Nguyễn Thị Thanh Th hay không và tiến hành thành lập Hội đồng định giá lại giá trị quyền sử dụng đất theo thị trường. Xét thấy yêu cầu của anh L là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 7 Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự nên kháng cáo của anh L được HĐXX chấp nhận. Theo xác minh ngày 24/3/2023 tại Công an xã CH, huyện PC thì Chị Nguyễn Thị Thanh Th sinh ngày 20/10/1993 là phù hợp với Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx của chị Th (do bà Trương Thị H cung cấp). Điều 9 của “Quy định về thực hiện Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính Phủ về việc giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp trong tỉnh Bình Định” ngày 27/11/1993 của UBND tỉnh Bình Định ban hành kèm theo “Quyết định số: 4034/QĐ-UB về ban hành quy định thực hiện Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính Phủ về việc giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng” ngày 27/11/1993 của UBND tỉnh BĐ quy định: “Việc giao đất nông nghiệp và cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho mỗi hộ gia đình căn cứ vào số nhân khẩu sống chủ yếu bằng nghề nông, có hộ khẩu thường trú tại địa phương, kể cả người đang làm nghĩa vụ quân sự, tính đến 0 giờ ngày 15/10/1993…”. Do đó, chị Nguyễn Thị Thanh Th không được tính là đối tượng được cân đối giao quyền sử dụng đất ngông nghiệp, vì sinh sau 0 giờ ngày 15/10/1993. Xét thấy, cấp sơ thẩm buộc anh Lượng, cụ C, ông Th, bà H phải bồi thường cho chị Th giá trị quyền sử dụng 139,7m2 đất trồng cây hàng năm khác là không đúng quy định của pháp luật nên cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm về phần này, không buộc anh Lượng, cụ Cảnh, ông T1, bà H phải bồi thường cho chị Th.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BĐ rút toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện PC nên HĐXX đình chỉ xét xử đối với Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện PC theo quy định tại Điều 295 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về án phí, chi phí tố tụng khác:

[4.1] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 2 Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, thì cụ Đỗ Thị C được miễn. Anh Nguyễn Đỗ L và vợ chồng ông Nguyễn T1, bà Trương Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nhưng cấp sơ thẩm buộc những người trên phải chịu là không đúng quy định của pháp luật nên sửa án sơ thẩm về phần này. Anh Nguyễn Đỗ L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Về chi phí tố tụng khác: Chi phí định giá tài sản 02 lần là 8.500.000 đồng theo đơn yêu cầu của bà Trương Thị H và anh Nguyễn Đỗ L. Theo quy định tại Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự thì bà H và anh L mỗi người phải chịu ½. Bà H đã ứng chi 3.500.000 đồng, anh L đã ứng chi 5.000.000 đồng nên bà Hồng phải hoàn trả cho anh L 750.000 đồng.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm là phù hợp với nhận định của HĐXX. Về việc giải quyết vụ án là có một phần phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, khoản 2 Điều 148, Điều 165, các Điều 293, 295, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 130, 131, 457, 459, 462, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 106, 167, 188 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của cụ Đỗ Thị C. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Kháng nghị số: 184/QĐ-VKS-DS Ngày 10/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện PC. Chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Đỗ L. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2022/DS-ST ngày 26/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện PC.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Đỗ Thị C về việc yêu cầu Tòa án hủy ½ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được xác lập, ký kết và được UBND xã CH, huyện PC chứng thực ngày 31/12/2020 giữa bên tặng cho là cụ Đỗ Thị C, ông Nguyễn T1, bà Trương Thị H với bên được tặng cho là anh Nguyễn Đỗ L và bác yêu cầu của cụ C buộc anh L phải trả lại cho hộ gia đình cụ C 330,8m2 (trong đó có 51,4m2 đất ở và 279,25m2 đất vườn thừa) ở vị trí phía Bắc thuộc thửa đất số hiệu 187 tờ bản đồ số 01 – 1995 (nay là thửa 112 tờ bản đồ 30 – bản đồ đo đạc chính quy) diện tích 661,6m2 tại Thôn C, xã C, huyện PC, tỉnh BĐ.

2. Anh Nguyễn Đỗ L được trọn quyền sử dụng thửa đất số hiệu 112 tờ bản đồ 30 (bản đồ đo đạc chính quy), diện tích 661,6m2 (trong đó có 102,8m2 đất ở và 558,8m2 đất vườn) tọa lạc tại thôn Thôn C, xã C, huyện PC, tỉnh BĐ.

3. Về án phí, chi phí tố tụng khác:

3.1 Án phí dân sự sơ thẩm: Cụ Đỗ Thị C được miễn.

3.2 Án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho anh Nguyễn Đỗ L 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu số: 0011693 ngày 0/11/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện PC.

3.3 Chi phí tố tụng khác: Bà Trương Thị H phải hoàn trả lại cho anh Nguyễn Đỗ L 750.000 đồng.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND tỉnh BĐ;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND huyện PC;

- Chi cục THADS huyện PC;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ; Tòa dân sự.

Võ Công Phƣơng THÀNH VIÊN HĐXX

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuấn

Võ thị Hồng Thu

Võ Công Phƣơng

Cỡ chữ