vanban.org

Quyết định 36/2021/DS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn D về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”

Tuyên bố ông Phạm Văn T, sinh năm 1957. Nơi cư trú cuối cùng: Xóm 10, xã HP, huyện HH, tỉnh Nam Định là đã chết. Ngày chết của ông Phạm Văn T là ngày 02 tháng 11 năm 1986. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Phạm Văn D- Phạm VĂn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn D về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 36/2021/QĐST- DSHải Hậu, ngày 30 tháng 3 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

THh phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Văn Ái.

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Hồng Thắm- Thư ký tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên họp: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 112/2020/TLST- DS ngày 03 tháng 11 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2021/QĐST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn D, sinh năm 1966. Địa chỉ: Xóm 10, xã HP, huyện HH, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Phạm Văn T, sinh năm 1957. Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Xóm 10, xã HP, huyện HH, tỉnh Nam Định.

+ Cụ Phạm Văn Ch, sinh năm 1927. Địa chỉ: Địa chỉ: Xóm 10, xã HP, huyện HH, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt)

 Bà Phạm Thị H, sinh năm 1958. Địa chỉ: Tổ dân phố số 04, thị trấn YĐ, huyện HH, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt)

 Bà Phạm Thị Ng, sinh năm 1962. Địa chỉ: Xóm 10, xã HP, huyện HH, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt)

 Ông Phạm Th Gi, sinh năm 1971. Địa chỉ: Xóm 10, xã HP, huyện HH, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt)

 Ông Phạm Văn Th, sinh năm 1974. Địa chỉ: Khu tập thể Cục kĩ thuật Quân khu 7, xã TH, huyện HM, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết ngày 02 tháng 11 năm 2020, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, ông Phạm Văn D trình bày:

Bố mẹ đẻ ông là cụ Phạm Văn Ch và cụ Đặng Thị Dần, cụ Dần mất năm 1927. Bố mẹ ông sinh được 06 người con, gồm: ông Phạm Văn T, sinh năm 1957; bà Phạm Thị H, sinh năm 1958; bà Phạm Thị Ng, sinh năm 1962; ông Phạm Văn D, sinh năm 1966; ông Phạm Th Gi, sinh năm 1971 và ông Phạm Văn Th, sinh năm 1974.

Tháng 10 năm 1981, ông Phạm Văn T là anh trai ông tự ý bỏ nhà đi, không thông báo với gia đình đi đâu, làm gì. Tại thời điểm đó, ông T chưa kết hôn và cũng không có con. Kể từ khi bỏ đi từ tháng 10 năm 1981 đến nay, ông T không về, cũng không thư từ, liên lạc gì cho gia đình ông D. Ông D cũng như bố và các anh chị em trong gia đình đã đi tìm ông T nhiều lần nhưng cũng không ai biết tin tức gì của ông T, không biết ông T đi đâu, làm gì. Do đó, ông Phạm Văn D yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu tuyên bố ông Phạm Văn T, sinh năm 1957. Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Xóm 10, xã HP, huyện HH, tỉnh Nam Định là đã chết.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Cụ Phạm Văn Ch, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị Ng, ông Phạm Văn Th có lời trình bày thống nhất với lời trình bày của ông D về mối quan hệ huyết thống và việc biệt tích của ông Phạm Văn T. Đến nay, cụ Ch, bà H, bà Ng, ông Th đều đồng ý với yêu cầu của ông Phạm Văn D tuyên bố ông Phạm Văn T, sinh năm 1957 là đã chết theo quy định pháp luật.

Theo kết quả xác minh tại UBND xã Hải Phương: Hiện nay, xã Hải Phương không còn lưu giữ thông tin về hộ tịch, hộ khẩu của ông Phạm Văn T, sinh năm 1957, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Xóm 10, xã HP, huyện HH, tỉnh Nam Định. Tuy nhiên, việc ông T bỏ đi từ những năm 1981 là có thật. Đến nay, chính quyền địa phương không nhận được thông tin nào liên quan đến việc ông T đang ở đâu, làm gì.

Ông Vũ Văn Khẩn- Xóm trưởng xóm 10, xã Hải Phương cung cấp thông tin thống nhất với lời trình bày của ông D về quan hệ huyết thống của ông T. Ông khẳng định việc ông T bỏ đi biệt tích khỏi địa phương từ năm 1981 là có thật. Kể từ khi ông T bỏ đi khỏi địa phương đến nay, ông T chưa trở về địa phương lần nào. Đến nay, ông cũng không có tin tức, địa chỉ gì của ông T.

Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết và đã được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án tỉnh Nam Định vào ngày 11 tháng 11 năm 2020, trên báo Công Lý trong ba số liên tiếp vào các ngày ngày 20, 25 và 27 tháng 11 năm 2020 và trên Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 20, 21, 22 tháng 11 năm 2020.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ việc:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Thư ký đã tuân theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp.

- Về nội dung: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ thì ông Phạm Văn T, sinh năm 1957; nơi cú trú cuối cùng trước khi biệt tích: Xóm 10, xã HP, huyện HH, tỉnh Nam Định biệt tích từ tháng 10 năm 1981. Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phạm Văn D, tuyên bố ông Phạm Văn T là đã chết. Xác định ngày chết của ông T theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Phạm Văn D là người yêu cầu, cụ Phạm Văn Ch, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị Ng, ông Phạm Văn Th là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin vắng mặt tại phiên họp; ông Phạm Th Gi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp không có lý do. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến Hh phiên họp vắng mặt ông D, cụ Ch, bà H, bà Ng, ông Th, ông Gi.

Xét yêu cầu của ông Phạm Văn D về việc yêu cầu tuyên bố ông Phạm Văn T là đã chết: Căn cứ vào xác nhận của UBND xã Hải Phương, của ông Vũ Văn Khẩn và lời khai của người yêu cầu ông Phạm Văn D, của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Cụ Phạm Văn Ch, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị Ng, ông Phạm Văn Th đã đủ cơ sở xác định ông Phạm Văn T bỏ đi biệt tích từ tháng 10 năm 1981. Khi bỏ đi, ông T chưa kết hôn và không có con. Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết và đăng trên đài, báo, cổng thông tin điện tử của Tòa án theo quy định. Đến nay, đã trên 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo nhưng không có tin tức của ông Phạm Văn T. Như vậy, ông Phạm Văn T đã biệt tích trên 05 năm liền và không có tin tức xác thực là còn sống. Căn cứ khoản 1 Điều 68, Điều 71 Bộ luật Dân sự có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn D tuyên bố ông Phạm Văn T đã chết.

Về xác định ngày chết của ông Phạm Văn T: Theo lời khai của các đương sự, kết quả xác minh tại địa phương thì thời điểm biết tin tức cuối cùng của ông Phạm Văn T là tháng 10 năm 1981, không xác định được ngày có tin tức cuối cùng. Theo khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự xác định ngày có tin tức cuối cùng của ông Phạm Văn T là ngày 01 tháng 11 năm 1981. Theo quy định tại khoản 1 Điều 70 thì Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết là ngày kế tiếp của ngày sau 05 năm kể từ ngày người đó biệt tích; thời hạn 05 năm được tính từ ngày biết tin tức cuối cùng về người đó, nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng;. Như vậy, ngày chết của ông Phạm Văn T được xác định là ngày 02 tháng 11 năm 1986.

Theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Dân sự khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Ông Phạm Văn D thực hiện đăng ký khai tử cho ông Phạm Văn T theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn D phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 367, 370, 371, 372, 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn D về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”

Tuyên bố ông Phạm Văn T, sinh năm 1957. Nơi cư trú cuối cùng: Xóm 10, xã HP, huyện HH, tỉnh Nam Định là đã chết.

Ngày chết của ông Phạm Văn T là ngày 02 tháng 11 năm 1986.

Khi Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Phạm Văn T (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Ông Phạm Văn D thực hiện đăng ký khai tử cho ông Phạm Văn T theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn D phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ từ tiền tạm ứng lệ phí việc dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2017/0002381 ngày 03 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi Hh án dân sự huyện Hải Hậu. Ông Phạm Văn D đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Cỡ chữ