- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "NINH THỊ MỸ L - NGUYỄN THỊ LỆ H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của cụ Ninh Thị Mỹ L, về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị Lệ H là người mất năng lực hành vi dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 134 Bộ luật Dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI ___________________ Số: 354/2026/QĐST - DS Ngày: 10/07/2026 | Hà Nội, ngày 10 tháng 07 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V /v: “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Huyền.
- Thư ký phiên họp: Bà Phạm Hồng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Trần Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 07 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý sơ thẩm số 295/2026/TLST - VDS ngày 21/5/2026 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 18/2026/QĐMPH-ST ngày 06 tháng 07 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu: Cụ Ninh Thị Mỹ L, sinh năm 1944; CCCD số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 13/5/2023; Đăng ký hộ khẩu thường trú tại: 5-B16 phố Y, phường Đ, thành phố Hà Nội; Tạm trú: Số 36 ngõ 219 phố B, phường B, thành phố Hà Nội. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
2.1. Bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1972; CCCD số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 10/7/2021; Đăng ký hộ khẩu: Số 24 ngõ 10/16 đường L, phường G, Thành phố Hà Nội; Đăng ký tạm trú: Số 36 ngõ 219 phố B, phường B, TP. Hà Nội. (Người bị yêu cầu). Vắng mặt.
2.2. Chị Thái Huyền M, sinh năm 2003; CCCD số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 05/06/2021; HKTT: Số 24 ngách 16 ngõ 10 đường L, phường G, thành phố Hà Nội. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
2.3. Chị Thái Huyền T, sinh năm 2004; Căn cước số xxxxxxxxxxxx do Bộ Công an cấp ngày 14/04/2026; HKTT: Số 24 ngách 16 ngõ 10 đường L, phường G, thành phố Hà Nội. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 13/5/2026 và trong quá trình tố tụng, người yêu cầu cụ Ninh Thị Mỹ L trình bày: Cụ và chồng là cụ Nguyễn Tấn V (sinh năm 1936 – mất ngày 02/9/2022) có 02 người con chung. Trong đó, con gái lớn của cụ là bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1972, từ khi sinh ra cho đến khi đi học, đi làm, kết hôn và sinh hai con sức khỏe thể chất và tinh thần bình thường. Tuy nhiên đến 19.3.2026, bà H bị nhồi máu cơ tim, ngưng tim ngoại viện 30 phút, hôn mê sâu và được cấp cứu tại Bệnh viện Đại học Y Hà nội. Từ khi được cấp cứu đến nay bà H vẫn liệt người hai bên, khó đánh giá về cơ lực, nhồi máu cơ tim cấp đã được đặt stent LAD, suy tim EF45%, bệnh não thiếu oxy, nấm da, hạ kali máu/mở khí quản (Giấy xác nhận quá trình điều trị nội trú của bệnh viện). Hàng ngày bà H đều phải có người trông nom, chăm sóc hàng, ăn uống qua sonde dạ dày và tiểu qua sonde lưu. Nay trong gia đình có những giao dịch dân sự cần sự xác nhận của bà Nguyễn Thị Lệ H nhưng bà H không thể tự mình thực hiện được nên cụ L có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố bà Nguyễn Thị Lệ H là “Người mất năng lực hành vi dân sự” đồng thời cụ L cũng đề nghị xác định cụ là đại diện giám hộ cho bà Nguyễn Thị Lệ H theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/05/2026 , cụ Ninh Thị Mỹ L có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với bà Nguyễn Thị Lệ H. Tại bản kết luận giám định số 226/KLGĐ ngày 06/7/2026 của Viện pháp y tâm thần Trung ương đã kết luận: “Tại thời điểm giám định (hiện tại) đối tượng Nguyễn Thị Lệ H bị bệnh mất trí không biệt định; Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD-10), có mã bệnh F03. Đối tượng Nguyễn Thị Lệ H mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.”
Chị Thái Huyền M và chị Thái Huyền T là con gái của bà Nguyễn Thị Lệ H có lời khai xác nhận bà Nguyễn Thị Lệ H và chồng là ông Thái Trọng V đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 282/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10/6/2019 của Tòa án nhân dân quận B, Hà Nội. Sau khi ly hôn bà H về sinh sống chủ yếu với bà ngoại là cụ Ninh Thị Mỹ L tại phường B, Hà Nội. Tháng 03/2026, bà Nguyễn Thị Lệ H bị nhồi máu cơ tim, hiện đang bị liệt toàn thân, không nói, không nhận biết được và sống phụ thuộc hoàn toàn vào người khác chăm sóc tại chỗ là đúng sự thật. Chị M và chị T hoàn toàn thống nhất với yêu cầu của cụ Ninh Thị Mỹ L tuyên bố bà Nguyễn Thị Lệ H là người mất năng lực hành vi dân sự và thống nhất cụ Ninh Thị Mỹ L là người giám hộ cho bà Nguyễn Thị Lệ H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Tòa án: Tuyên bố bà Nguyễn Thị Lệ H là người mất năng lực hành vi dân sự; Cụ Ninh Thị Mỹ L là người giám hộ cho cho bà Nguyễn Thị Lệ H; Về lệ phí: áp dụng Nghị Quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để giải quyết.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu lời khai của các đương sự, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Lệ H là người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, cư trú tại số 36 ngõ 219 phố B, phường B, thành phố Hà Nội nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội là phù hợp quy định tại Điều 27, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Thị Lệ H là con đẻ của cụ Ninh Thị Mỹ L nên cụ Ninh Thị Mỹ L là người có quyền được yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Lệ H mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 376 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên họp, người yêu cầu và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy họ đã có lời khai trong hồ sơ và có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt họ là có căn cứ.
[2] Xét yêu cầu của cụ Ninh Thị Mỹ L về việc yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Lệ H mất năng lực hành vi dân sự:
Lời khai của người yêu cầu phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác trong hồ sơ. Có đủ căn cứ khẳng định: Bà Nguyễn Thị Lệ H từ khi được sinh ra và lớn lên phát triển bình thường về trí não cũng như về thể chất nhưng từ ngày 19/3/2026 bà H bị nhồi máu cơ tim, ngưng tim ngoại viện 30 phút, hôn mê sâu và được cấp cứu ở Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đến nay nằm liệt toàn thân, không có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi, không tự chủ được bản thân mà phải phụ thuộc vào sự trợ giúp, chăm sóc hàng ngày của người thân. Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần số 226/KLGĐ ngày 06/7/2026 của Viện pháp y tâm thần Trung ương đã xác định bà Nguyễn Thị Lệ H mất năng lực hành vi dân sự nên cụ Ninh Thị Mỹ L yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Lệ H là người mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự và Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về xác định người giám hộ: Gia đình bà Nguyễn Thị Lệ H xác nhận nhiều năm trước khi bị bệnh như hiện nay chủ yếu bà H sống cùng cụ Ninh Thị Mỹ L. Điều đó thể hiện bà H có sự hòa hợp và tin tưởng cụ Ninh Thị Mỹ L. Các con bà H là chị M và chị T cũng đồng ý để cụ Ninh Thị Mỹ L là mẹ đẻ của bà H là người giám hộ, đại diện theo pháp luật của bà H trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H theo quy định của pháp luật. Xét thấy cụ L có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có tư cách đạo đức tốt, không vi phạm pháp luật, đủ điều kiện làm người giám hộ cho bà H. Cụ L đồng ý làm người giám hộ cho bà H nên chấp nhận đề nghị của cụ L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc chỉ định cụ Ninh Thị Mỹ L là người giám hộ cho bà Nguyễn Thị Lệ H là phù hợp với quy định tại các Điều 46, 47, 48, 49, 54 Bộ luật dân sự. Cụ Ninh Thị Mỹ L phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại Điều 57 và 58 Bộ luật dân sự. Thực hiện quyền quản lý tài sản của người được giám hộ theo quy định tại Điều 59 Bộ luật dân sự.
[4] Về lệ phí: Cụ Ninh Thị Mỹ L là người cao tuổi nên được miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.
[5] Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 27, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 71, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 22, Điều 46, Điều 47, Điều 48, Điều 49, Điều 54, Điều 57, Điều 58, Điều 59 và Điều 134 Bộ luật dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1, khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;
1. Chấp nhận yêu cầu của cụ Ninh Thị Mỹ L, về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị Lệ H là người mất năng lực hành vi dân sự.
2. Tuyên bố bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh ngày 25/03/1972; CCCD số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 10/07/2021; đăng ký hộ khẩu tại: Số 24 ngõ 10/16 đường L, phường G, thành phố Hà Nội; đăng ký tạm trú: Số 36 ngõ 219 phố B, phường B, thành phố Hà Nội, hiện nay mất năng lực hành vi dân sự.
3. Xác định cụ Ninh Thị Mỹ L, sinh năm 1944; CCCD số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 13/5/2023; đăng ký hộ khẩu thường trú tại: 5-B16 đường Y, phường Đ, Hà Nội; đăng ký tạm trú: Số 36 ngõ 219 phố B, phường B, thành phố Hà Nội là người giám hộ cho bà Nguyễn Thị Lệ H.
Cụ Ninh Thị Mỹ L phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại Điều 57 và 58 Bộ luật dân sự. Thực hiện việc quản lý tài sản của người được giám hộ theo quy định tại Điều 59 Bộ luật dân sự.
4. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Cụ Ninh Thị Mỹ L được miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự.
5. Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Khu vực 5 – Hà Nội; - Phòng THADS Khu vực 5–HN; - UBND phường G, thành phố Hà Nội; - UBND phường B, Thành phố Hà Nội; - Lưu hồ sơ; Vp. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp Lê Thị Huyền |