- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A (tên gọi khác: C).
- Căn cứ chính? Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH GIA LAI ------------ Số: 35/QĐ-TA | P, ngày 30 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
-----------
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng.
2. Thư ký phiên họp: Ông Phạm Quang Hoàn.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 33/QĐ-TA ngày 27 tháng 11 năm 2018, đối với:
Họ và tên: A (tên gọi khác: C); giới tính: Nam; sinh ngày 22 tháng 02 năm 1989 tại tỉnh Quảng Nam; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 10/12; nơi ĐKHKTT: Tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; tiền án, tiền sự: Không; con ông Đỗ Mộng L và bà Hoàng Thị Diễm H. Vắng.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hoàng Đức Tân - Chuyên viên của Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai (theo Giấy ủy quyền số: 413/UQ-LĐTBXH ngày 28/11/2018).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai: Bà Phạm Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
A là đối tượng nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định. Vào lúc 8 giờ 00 ngày 17/10/2018, tại khu vực suối P, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, A đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường H, thành phố P lập biên bản vi phạm hành chính và bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường H ra quyết định giao cho Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai quản lý vào ngày 17/10/2018. Ngày 18 tháng 10 năm 2018, Trạm Y tế phường H có Phiếu trả lời kết quả về việc xác định: A có nghiện ma túy thuộc nhóm: MOR.
Tại Công an phường H, A thừa nhận đã sử dụng ma túy đá từ năm 2011, loại ma túy Heroin, hình thức sử dụng là hút, thời gian gần đây chuyển sang chích.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A với thời hạn từ 20 tháng đến 24 tháng.
Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai đối với A thuộc thẩm quyền xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân thành phố P đã thực hiện đúng quy định tại các Điều: 3, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 14 16, 17 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Đã có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A theo Điều 95, 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính nên đề nghị Tòa án đồng ý với đề nghị của Phòng Lao động-Thương bình và xã hội thành phố P về việc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với A bằng hình thức đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
XÉT THẤY:
Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 8, 9 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A được lập trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.
Xét về đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là A, thì thấy rằng: A là đối tượng nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định. Vào lúc 8 giờ 00 ngày 17/10/2018, tại khu vực suối P, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, A đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường H, thành phố P lập biên bản vi phạm hành chính và bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường H ra quyết định giao cho Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai quản lý vào ngày 17/10/2018. Ngày 18 tháng 10 năm 2018, Trạm Y tế phường H có Phiếu trả lời kết quả về việc xác định: A có nghiện ma túy thuộc nhóm: MOR.
Tại Công an phường H, A thừa nhận đã sử dụng ma túy từ năm 2011, loại ma túy Heroin, hình thức sử dụng là hút, thời gian gần đây chuyển sang chích.
Vì vậy cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A, thời gian buộc phải cai nghiện là 20 tháng, theo Khoản 2 Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào các Điều: 7, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và 108 của Luật xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ vào các Điều: 3, 22, 23, 24, 30, 31 và 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ vào các Điều: 3, 4, 8, 9, 13 và 15 của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A (tên gọi khác: C).
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai.
3. Trong thời hạn 03(Ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, A có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai.
| Nơi nhận: - A; - Công an thành phố P; - Phòng LĐ-TB&XH TP. P; - Ủy ban nhân dân phường H; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố P; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Trần Văn Thưởng |