- Tranh chấp gì? "Trương Trần H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Trương Trần H; tên gọi khác: không; sinh năm 1994 tại tỉnh Bến Tre; căn cước công dân: 083094007759; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; nơi cư trú: số A, ấp A, x…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 35/QĐ-TA | Thành phố Bến Tre, ngày 19 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Đạt.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Vương.
Ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 33/QĐ-TA ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với:
Họ và tên: Trương Trần H;
Tên gọi khác: không; sinh năm 1994 tại tỉnh Bến Tre;
Căn cước công dân: 083094007759;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Không;
Trình độ văn hóa: 8/12.
Nơi cư trú: số A, ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre;
Nhân thân: Đã nêu tại Quyết định số 13/QĐ-TA ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre.
Con ông Trương Trần P và bà Nguyễn Thị Ngọc H1.
Anh Trương Trần H vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
- Người đề nghị: Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B (ông Ngô Văn L).
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T – Phó Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre: Bà Huỳnh Thị Ngọc Điệp - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc, hành vi vi phạm của anh Trương Trần H được tóm tắt như sau:
Anh H là đối tượng đang được quản lý sau cai nghiện từ ngày 10/9/2024 cho đến ngày 10/9/2026 theo Quyết định số 218/QĐ-UBND ngày 10/9/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, thành phố B. Ngày 29/11/2024, Công an xã M tiến hành kiểm tra thì anh H dương tính với ma túy. Anh H khai nhận khoảng 15 giờ ngày 29/11/2024 anh H có sử dụng ma túy loại Heroine nên Công an xã M tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính số 25/BB-VPHC ngày 29/11/2024 đối với anh H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 625/BB-VPHC ngày 29/11/2024 đối với anh H. Theo phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế thành phố B xác định anh H nghiện ma túy loại Heroine và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H.
Tại phiên họp:
Người đề nghị có ý kiến: Anh H là đối tượng đang được quản lý sau cai nghiện từ ngày 10/9/2024 cho đến ngày 10/9/2026 theo Quyết định số 218/QĐ-UBND ngày 10/9/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, thành phố B nhưng lại tiếp tục sử dụng ma túy. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H với thời hạn là 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh B.
Kiểm sát viên tham gia phiên họp xác định: Quá trình thụ lý hồ sơ và tại phiên họp, những người tiến hành phiên họp đã tuân thủ và thực hiện đúng các trình tự, thủ tục theo luật định. Hồ sơ đã được lập đúng theo trình tự, thủ tục theo luật định, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H theo đề nghị của người đề nghị với thời hạn 18 tháng.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ và ý kiến của những người tham gia phiên họp,
XÉT THẤY:
Tại phiên họp, anh Trương Trần H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên căn cứ vào khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Điều 1 Nghị Quyết số 04 ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt đối với anh H là phù hợp.
Anh H là đối tượng đang được quản lý sau cai nghiện từ ngày 10/9/2024 cho đến ngày 10/9/2026 theo Quyết định số 218/QĐ-UBND ngày 10/9/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, thành phố B. Ngày 29/11/2024, Công an xã M tiến hành kiểm tra thì anh H dương tính với ma túy. Anh H khai nhận khoảng 15 giờ ngày 29/11/2024 anh H có sử dụng ma túy loại Heroine nên Công an xã M tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính số 25/BB-VPHC ngày 29/11/2024 đối với anh H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 625/BB-VPHC ngày 29/11/2024 đối với anh H. Theo phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế thành phố B xác định anh H nghiện ma túy loại Heroine và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H là phù hợp.
Anh H là người trên 18 tuổi, đang bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú từ ngày 10/9/2024 cho đến ngày 10/9/2026 nhưng lại tiếp tục sử dụng ma túy vào ngày 29/11/2024 nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi bổ sung năm 2020) và khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Do đó, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H đã được các cơ quan có thẩm quyền lập đúng và đầy đủ theo trình tự pháp luật quy định nên đề nghị của người đề nghị là có cơ sở.
Anh H biết rõ chất ma túy là chất độc hại, việc sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của anh H đã xâm phạm đến chủ trương chính sách của Nhà nước về bài trừ tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó, việc bắt buộc cai nghiện đối với anh H là cần thiết.
Xét về nhân thân và mức độ nghiện của anh H thì thấy rằng anh H đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 16 tháng (theo Quyết định số 13/QĐ-TA ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre) nhưng vẫn tái nghiện nên mức thời gian cai nghiện mà người đề nghị, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đề nghị 18 tháng là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Trương Trần H; tên gọi khác: không; sinh năm 1994 tại tỉnh Bến Tre; căn cước công dân: 083094007759; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; nơi cư trú: số A, ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre; con ông Trương Trần P và bà Nguyễn Thị Ngọc H1.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Anh Trương Trần H được quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định này hoặc Quyết định này được niêm yết hợp lệ. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B được quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre được quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B, Công an thành phố B và Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh B có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - Phòng kiểm tra nghiệp vụ TA tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - Trưởng Phòng LĐ-TB và XH TP Bến Tre (1b); - Trưởng Công an TP Bến Tre (1b); - UBND và Công an xã M, TP BT (2b); - Cơ sở CNMT thuộc Sở LĐTBXH T.Bến Tre (1b); - Anh Trương Trần H (1b); - Lưu VP, hồ sơ (2b). | THẨM PHÁN Nguyễn Ngọc Đạt |