vanban.org

Quyết định 35/2024/QĐ-TA

TAND huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 26/09/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: “Cơ sở cai nghiện ma túy” thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh T có trụ sở tại xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, đối với đối tượng Nguyễn Minh B.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 09 (chín) tháng, kể từ ngày 22/7/2024. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Nguyễn Minh B có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định; Người giám hộ bà Võ Thị Yến N … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bản án"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: “Cơ sở cai nghiện ma túy” thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh T có trụ sở tại xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, đối với đối tượng Nguyễn Minh B.
  • Căn cứ chính? Điều 23 Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục Tòa án nhân…; Điều 24 Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục Tòa án nhân…; Điều 3 Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục Tòa án nhân…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHƯỚC
TỈNH TIỀN GIANG
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

QĐ số: 35/2024/QĐ-TATân Phước, ngày 26 tháng 9 năm 2024.

QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI

NGHIỆN BẮT BUỘC

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Thị Kim Thúy.

- Thư ký phiên họp: Ông Phan Văn Chung - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Phượng Tuyền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với hồ sơ thụ lý số 34/2024/XLVPHC, ngày 18 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định mở phiên họp số 28/2024/QĐ-TA ngày 18 tháng 9 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Minh B; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 30/5/2009 tại tỉnh Tiền Giang;

Số căn cước công dân: 082209005149; Ngày cấp: 03/4/2021; Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý về trật tự xã hội

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 5/12;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Nơi cư trú: Không ổn định.

Nghề nghiệp: Không;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Không;

Con ông: Nguyễn Minh T và bà: Võ Thị Yến N;

Bị quản lý từ ngày 22/7/2024 cho đến nay tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang. (xin vắng mặt)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn N1 – Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Tiền Giang, là đại diện theo ủy quyền của ông Dương Hoàng L – Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Tiền Giang.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Phượng T1 – Kiểm sát viên.

3. Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Minh B: Bà Võ Thị Yến N, sinh năm: 1979.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay:Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Là mẹ của Nguyễn Minh B.

NHẬN THẤY

Ngày 21/7/2024, Công an xã H mời Nguyễn Minh B lên cơ quan công an để làm việc do Nguyễn Minh B tụ tập với các đối tượng trên địa bàn xã H. Qua làm việc Nguyễn Minh B khai nhận mới vừa có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (loại ma túy đá) và Nguyễn Minh B không có nơi cư trú ổn định được quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP.

Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 22/7/2024 của Bệnh viện tâm thần tỉnh T kết luận Nguyễn Minh B có nghiện chất Methamphetamine.

- Tại phiên họp hôm nay:

Đại diện cơ quan đề nghị là ông Nguyễn Văn N1 trình bày: Nguyễn Minh B là đối tượng nghiện ma túy chưa đủ 18 tuổi nhưng không đăng ký, không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện, nên Nguyễn Minh B là đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 33 Luật phòng, chống ma túy. Do đó đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Phước đưa Nguyễn Minh B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định pháp luật, thời hạn áp dụng từ 06 tháng đến 09 tháng.

Bà Võ Thị Yến N là người đại diện hợp pháp của Nguyễn Minh B trình bày: Bà đồng ý đưa Nguyễn Minh B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định pháp luật, thời hạn áp dụng 09 tháng.

Kiểm sát viên phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong việc xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng theo quy định pháp luật

- Về nội dung: Xét thấy đủ căn cứ đưa Nguyễn Minh B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện T, Tiền Giang đưa Nguyễn Minh B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 33, Điều 34 Luật phòng, chống ma túy và Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 ngày 24/3/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội với thời hạn từ 06 đến 09 tháng.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, Thẩm phán nhận định:

[1] Về sự có mặt của đối tượng Nguyễn Minh B: Đối tượng Nguyễn Minh B được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Đối với bà Võ Thị Yến N là người giám hộ cho đối tượng Nguyễn Minh B có mặt là phù hợp với Khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 ngày 24/3/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nên quyết định mở phiên họp vắng mặt đối với đối tượng Nguyễn Minh B, có mặt bà Võ Thị Yến N.

Về thẩm quyền của Toà án: Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng Nguyễn Minh B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện T nên Tòa án nhân dân huyện Tân Phước thụ lý hồ sơ là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 ngày 24/3/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xét tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị đưa đối tượng Nguyễn Minh B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Hồ sơ đề nghị đã đầy đủ các giấy tờ, tài liệu và các giấy tờ tài liệu đó đã phù hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Khoản 4 Điều 34 Luật phòng, chống ma túy:

- Bản tóm tắt lý lịch của Nguyễn Minh B;

- Biên bản vi phạm hành chính do Công an xã H lập ngày 22/7/2024.

- Tài liệu, chứng cứ chứng minh tình trạng nghiện ma túy của đối tượng Nguyễn Minh B gồm: Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm Y tế huyện T, tỉnh Tiền Giang.

- Bản tường trình của đối tượng Nguyễn Minh B.

- Đề nghị số 320/ĐN-CNBB ngày 17/9/2024 của ông Dương Hoàng L – Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện T, về việc chuyển hồ sơ Nguyễn Minh B đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Phước xử lý kèm hồ sơ vụ việc;

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng Nguyễn Minh B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Nguyễn Minh B thực hiện hành vi vi phạm hành chính lần cuối vào ngày 21/7/2024, đến nay vẫn còn trong thời hạn 03 tháng nên thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn theo quy tại Điểm d Khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Nguyễn Minh B là đối tượng nghiện ma túy chưa đủ 18 tuổi nhưng không đăng ký, không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện, nên Nguyễn Minh B là đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 33 Luật phòng, chống ma túy.

Về thẩm quyền lập hồ sơ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện T lập hồ sơ là đúng thẩm quyền quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 34 Luật phòng, chống ma túy.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị: Thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 50, 51, 52 và 53 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ; Điều 34 Luật phòng, chống ma túy.

Xét hành vi vi phạm của đối tượng Nguyễn Minh B: Đối tượng Nguyễn Minh B đã nghiện ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng không đăng ký, không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện. Khi thực hiện hành vi của mình, đối tượng hoàn toàn ý thức được hành vi đó là vi phạm pháp luật, nhưng do xuất phát từ ý thức xem thường pháp luật mà đối tượng vẫn cố ý thực hiện, hành vi của đối tượng Nguyễn Minh B đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.

Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng; là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS. Những hậu quả do tệ nạn ma túy gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội và an ninh trật tự của đất nước. Nghiện ma túy làm suy kiệt trí tuệ, hủy hoại sức khỏe con người, ảnh hưởng đến giống nòi; làm cho nhiều gia đình rơi vào cảnh tan nát, bần cùng. Nhưng hiện vẫn còn không ít đối tượng vẫn sử dụng trái phép chất ma túy để tự hủy hoại đời mình, trong đó có đối tượng Nguyễn Minh B.

Về tình tiết giảm nhẹ: Đối tượng Nguyễn Minh B không có tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên có xem xét khi xử lý đối tượng là người dưới 18 tuổi.

Về tình tiết tăng nặng: Đối tượng Nguyễn Minh B không có tình tiết tăng nặng quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Do đó cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng Nguyễn Minh B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm của đối tượng nhằm giúp đối tượng được chữa bệnh, lao động, học tập, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc để sau khi chấp hành xong thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật, trở thành một công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, nhận thấy đối tượng Nguyễn Minh B có trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định về thời gian đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Minh B.

Xét ý kiến và đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị phù hợp với nhận định trên, nên chấp nhận.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ các điều 33, 34 của Luật phòng, chống ma túy;

Căn cứ Khoản 1 Điều 3, Điều 23, 24 của Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 ngày 24/3/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Căn cứ Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: “Cơ sở cai nghiện ma túy” thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh T có trụ sở tại xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, đối với đối tượng Nguyễn Minh B.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 09 (chín) tháng, kể từ ngày 22/7/2024.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Nguyễn Minh B có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định; Người giám hộ bà Võ Thị Yến N có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quết định; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện T phối hợp với Công an huyện T đưa đối tượng Nguyễn Minh B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. * Nơi nhận:

Cỡ chữ