- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn Thành"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1995.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 35/2023/QĐ-TA | E, ngày 25 tháng 5 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
“Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH ĐẮK LẮK
- Với T phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Đỗ Xuân Cường.
2. Thư ký phiên họp: Ông Phan Việt Tiệp
Ngày 25 tháng 5 năm 2023. Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thụ lý số: 32/2023, ngày 16 tháng 5 năm 2023; theo Quyết định mở phiên họp số: 33/2023/QĐ-TA ngày 18 tháng 5 năm 2023, đối với:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, giới tính: Nam, sinh năm 1995; tại Tỉnh Đăk Lăk; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 6/12; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn 2, xã C, huyện E, tỉnh Đăk Lăk; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự; con ông Nguyễn B và bà Hồ Thị Lệ T. Vắng mặt.
Với sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E: Ông Nguyễn Anh Khuấn - Chức vụ: Phó trưởng phòng. Có mặt
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E: Ông Trần Minh Hoàng - Chức vụ: Kiểm sát viên. Có mặt.
NHẬN THẤY:
Ngày 05/5/2023 Nguyễn Văn T đã có đơn đề nghị xác đình tình trạng nghiện ma túy tại Trung tâm Y tế huyện E với kết quả xét nghiệm là có nghiện ma túy, loại Methamphetamine. Trong biên bản tường trình thì T khai nhận mình có sử dụng ma túy từ năm 2019. Sau khi xét nghiệm có kết quả dương tính với chất ma túy, ngày 09/05/2023 Công an xã C đã lập biên bản vi phạm số 03/BB-VPHC, về việc T có sử dụng trái phép chất ma tuy trong thời gian quản lý sau cai nghiện.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E trình bày: Nguyễn Văn T là người nghiện ma túy, trong thời gian quản lý sau cai nghiện T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an xã C đã lập biên bản vi phạm, nên thuộc diện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định và đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T đi cai nghiện tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk với thời hạn từ 18 tháng đến 20 tháng.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp, Thẩm phán cũng như những người tham gia phiên họp đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Mức đề nghị của Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E là có căn cứ.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ, căn cứ kết quả tại phiên họp, ý kiến của những người tham gia phiên họp.
XÉT THẤY:
Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề nghị là Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E có trụ sở tại địa bàn huyện E, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện E theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về thời hiệu: Ngày 09/5/2023 Công an xã C đã lập biên bản vi phạm số 03/BB-VPHC, về việc T có sử dụng trái phép chất ma tuy trong thời gian quản lý sau cai nghiện. Đến ngày 15/5/2023 Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E có Công văn số 221/ĐN-CCBB, đề nghị Tòa án nhân dân huyện E xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về nội dung: Xét đề nghị của Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vì T là người nghiện ma túy. Trong biên bản tường trình thì T khai nhận mình có sử dụng ma túy từ năm 2019. Sau khi xét nghiệm có kết quả dương tính với chất ma túy, ngày 09/05/2023 Công an xã C đã lập biên bản vi phạm số 03/BB-VPHC, về việc T có sử dụng trái phép chất ma tuy trong thời gian quản lý sau cai nghiện.
Kể từ khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính của T cho đến khi hồ sơ được chuyển sang Tòa án, các cơ quan chức năng đã thực hiện đúng các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T đi cai nghiện tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk: Qua kết quả xét nghiệm của Cơ quan y tế kết luận thì T là người nghiện ma túy, Công an xã C lập biên bản về hành vi T có sử dụng trái phép chất ma tuy trong thời gian quản lý sau cai nghiện. Vì vậy, T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy. Nên đề nghị của Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E là có căn cứ.
Xét tính chất mức độ hành vi của T trong việc sử dụng ma túy là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy.
Xét về nhân thân: T nghiện ma túy từ năm 2019, vào ngày 21/01/2021 T đã bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (thời gian là 16 tháng), đến ngày 29/01/2022 đã chấp hành xong. Nhưng sau khi cai nghiện xong T không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục xử dụng ma túy, vì vậy phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, sau khi lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, T đã tự nguyện khai báo, biết lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét đề nghị, của đại diện Phòng lao động Thương binh & Xã hội huyện E đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T là có căn cứ, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 6, 9, 10, 95, 96, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1995.
Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Địa chỉ: Thôn 4, xã Tân Tiến, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng (Mười tám tháng) kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan biết.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện E có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện E phối hợp với Công an huyện E có trách nhiệm thi hành quyết định này ngay sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk. - VKSND huyện E. - Phòng LĐTB&XH huyện E. - Công an huyện E. - Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk - UBND xã C. - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN Đỗ Xuân Cường |