- Tranh chấp gì? "cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Minh N"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Minh N, sinh năm 1984; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm C, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 35/2021/QĐ-TA | Phú Bình, ngày 10 tháng 12 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thủy
- Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 40/2021/QĐ-TA ngày 02 tháng 12 năm 2021, đối với:
Họ và tên: Đỗ Minh N, sinh năm 1984
Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm C, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Tiền án: Không; tiền sự: Không;
Bố đẻ: Đỗ Đức L và mẹ đẻ: Trần Thị N
(Anh N có mặt tại phiên họp)
Có sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Đức Giang, Chức vụ: Phó Trưởng Phòng Lao động Thương Binh và Xã hội huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P: Ông Lưu Nguyên Vũ, chức vụ: Kiểm sát viên.
- Những người khác: Ông Lý Văn Thanh, Chức vụ: Trưởng Công an xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
NHẬN THẤY:
Anh Đỗ Minh N là người nghiện ma túy đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã K theo quyết định số 152d/QĐ-UBND, ngày 14/8/2020 của Chủ tịch UBND xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên với thời hạn áp dụng là 03 tháng, kể từ ngày ra quyết định. Đến ngày 14/11/2020 Đỗ Minh N đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã. Tuy nhiên, anh N không từ bỏ được ma túy, lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy heroine.
Tại bản tường trình ngày 11/10/2021 và tại phiên họp ngày hôm nay anh N thừa nhận: Bản thân mắc nghiện ma túy từ năm 2014, nay anh vẫn chưa bỏ được ma túy, anh N vẫn thường xuyên sử dụng ma túy. Ngày 10/10/2021 anh N có sử dụng ma túy và tại phiên họp anh xác nhận lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 07/12/2021. Loại ma túy sử dụng là heroine, hình thức sử dụng là chích vào cơ thể.
Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 11/10/2021 và phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 11/10/2021 của anh N của Trạm y tế xã K có kết quả xét nghiệm đối với anh N xác định: Anh N nghiện chất ma túy. Dương tính (+) với ma túy.
Ngày 11/10/2021, Công an xã K đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với anh N.
Công văn số: 165/CV- LĐTBXH, ngày 29/11/2021 của Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện P, tỉnh Thái Nguyên về việc đề nghị xem xét áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đỗ Minh N với thời gian là 14 (Mười bốn) tháng.
Tại phiên họp:
- Đại diện phòng Lao động Thương binh- Xã hội huyện P vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án nhân dân xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với anh Đỗ Minh N với thời gian là 14 (Mười bốn) tháng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại về thời hạn được quy định tại Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 như: Thời hạn ra Thông báo thụ lý vụ việc, ra Quyết định mở phiên họp. Thành phần phiên họp đảm bảo theo quy định tại Điều 17 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13.
Quan điểm của Kiểm sát viên về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đỗ Minh N, nhất trí quan điểm của đại diện Phòng Lao động Thương binh - Xã hội huyện P đề nghị Tòa án nhân dân huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đỗ Minh N với thời gian là 14 tháng.
- Người bị đề nghị anh Đỗ Minh N có ý kiến: Việc cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa anh vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hoàn toàn đúng, bản thân anh là người nghiện ma túy, đến nay vẫn chưa từ bỏ được ma túy. Ngày 10/10/2021 anh có sử dụng ma túy và lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 07/12/2021. Quá trình lập hồ sơ bản thân anh đã được được đọc hồ sơ tại Công an xã. Anh Đỗ Minh N xác định việc lập hồ sơ đưa anh đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng.
XÉT THẤY:
Qua xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đỗ Minh N, thấy rằng:
- Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đỗ Minh N thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Về thời hiệu: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Phòng Lao động Thương binh - Xã hội huyện P đối với anh Đỗ Minh N vẫn trong thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 4 Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị, ý kiến của Kiểm sát viên, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thấy:
Ngày 14/8/2020, Ủy ban nhân dân xã K ra Quyết định số: 152d/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng đối với anh Đỗ Minh N và đã được cấp Giấy chứng nhận đã chấp hành xong. Bản thân Đỗ Minh N bị nghiện ma túy từ năm 2014, ngày 10/10/2021 anh N có sử dụng ma túy và tại phiên họp anh N xác nhận lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 07/12/2021. Tại phiếu trả lời kết quả xét nghiệm ngày 11/10/2021 của Trạm y tế xã K về việc xác định tình trạng nghiện ma túy cho thấy Đỗ Minh N có dương tính với ma túy và loại ma túy thường sử dụng là Heroine. Ngày 11/10/2021, Công an xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với anh Đỗ Minh N. Ngày 11/10/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K ban hành quyết định số: 562/QĐ-UBND về việc giao anh Đỗ Minh N cho ông Đỗ Đức L (Là bố đẻ của anh N) có trách nhiệm quản lý.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của anh Đỗ Minh N là trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội của Nhà nước ta, nên cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với anh N.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với anh Đỗ Minh N thấy: Anh N là người nghiện ma túy, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, nhưng ngay sau khi chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã anh N lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Trong quá trình lập hồ sơ anh N đã tự nguyện khai báo, nhận thức được hành vi vi phạm của mình là vi phạm pháp luật, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Anh N không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định anh Đỗ Minh N là:“Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã mà vẫn còn nghiện”.
Xét đề nghị Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện P về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đỗ Minh N với thời gian 14 tháng là có cơ sở để chấp nhận, vì phù hợp quy định tại: Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9, các Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 3; các Điều 22, 23, 29, 30, và Điều 31 của Pháp lệnh Số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 quy định về: Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị quyết số: 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao. Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Minh N, sinh năm 1984; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm C, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đến chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 32 của pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện P phối hợp với Công an huyện P đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Phòng LĐ -TB&XH huyện P; - VKSND huyện P; - Công an huyện P; - UBND xã K; - Người bị áp dụng ; - Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Thủy |