- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LHST"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phan Thị M và anh Đậu Xuân M.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số 35/2018/QĐST-HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 19 tháng 9 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Hồ Đức Quang
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Thúy Hạnh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Hồng Lê – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 37/2018/TLST-HNGĐ ngày 14/8/2018 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 40/2018/QĐ-TA ngày 11/9/2018, bao gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
1. Chị Phan Thị M; địa chỉ: Đội 6, Dân T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Có mặt
2. Anh Đậu Xuân M; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm 7, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tự do tại Đài Loan. Vắng mặt
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Chị Phan Thị Mai trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đậu Xuân M đăng ký kết hôn ngày 03/7/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được 4 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm. Năm 2014 chị M đi lao động tại Đài Loan, đến khi chị M về thì năm 2017 anh M đi Đài Loan lao động. Những mâu thuẫn từ trước không có cơ hội hàn gắn, lại thường xuyên sống xa nhau nên tình cảm phai nhạt, không quan tâm gì tới cuộc sống của nhau. Nhận thấy, hôn nhân chỉ tồn tại trên danh nghĩa nên chị đã làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị và anh Đậu Xuân M.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Đậu Minh Đ, sinh ngày 10/10/2010, chị yêu cầu công nhận sự thỏa thuận giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu tiền cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh M.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Đậu Xuân M trình bày bằng văn bản có nội dung giống trình bày của chị M về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ. Nhận thấy, vợ chồng đã sống ly thân 5 năm, không quan tâm tới nhau, bản thân anh không còn tình yêu với chị M, cuộc sống vợ chồng với những mâu thuẫn không giải quyết được trở nên nặng nề vì vậy anh đã thỏa thuận với chị M thuận tình ly hôn và có nguyện vọng được xét xử vắng mặt, ủy quyền giao nhận tài liệu chứng cứ cho chị Phan Thị M.
Tại phiên họp hôm nay, chị Phan Thị M giữ nguyên yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con và phân chia tài sản với anh Đậu Xuân M.
Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
Thủ tục tố tụng:
Anh Đậu Xuân M, đã sử dụng hộ chiếu số xxxxxxxx để xuất nhập cảnh 03 lần, lần gần đây nhất xuất cảnh ngày 01/3/2018 hiện chưa có thông tin nhập cảnh nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật TTDS năm 2015, đồng thời có yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình xét xử và ủy quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho chị Phan Thị M. Căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt anh M theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị M và anh Đậu Xuân M đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 03/7/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Nhận thấy, sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng của chị Phan Thị M và anh Đậu Xuân M chỉ hạnh phúc được một thời gian ngắn (04 năm). Năm 2013, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân xuất phát từ việc không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên tranh cãi. Năm 2014 chị M đi lao động tại Đài Loan, khi chị M về nước thì anh M lại đi (năm 2017), do đó vợ chồng không có cơ hội hàn gắn tình cảm, chia sẻ, cảm thông cho nhau, tình cảm phai nhạt, không còn quan tâm tới nhau. Thực tế, vợ chồng đã sống ly thân 5 năm. Hiện nay, cả hai đều xác định không còn tình cảm và mong muốn được ly hôn.
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau…nhưng cuộc hôn nhân của chị Phan Thị M và anh Đậu Xuân M không đạt được mục đích đó.
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).
Như vậy, chị M và anh M đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, HĐXX công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
Quan hệ con chung: Chị Phan Thị M và anh Đậu Xuân M đã thỏa thuận giao con chung Đậu Minh Đ cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh M không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Cháu Đ có nguyện vọng được ở với mẹ.
Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con...”. Như vậy, anh Đậu Xuân M và chị Phan Thị M đã thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn. Sự thỏa thuận đó cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Đậu Minh Đ và điều kiện, hoàn cảnh thực tế của mỗi bên.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu thuận tình ly hôn của họ để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phan Thị M và anh Đậu Xuân M.
2. Quan hệ con chung: Công nhận sự thỏa thuận: Giao con chung Đậu Minh Đ, sinh ngày 10/10/2010 cho chị Phan Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Đậu Xuân M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Phan Thị M (đã nộp 300.000đ tại biên lai số 001231 ngày 14/8/2018 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
| Nơi nhận - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - UBND xã Đ, huyện Đ; - Đương sự ; - Lưu HS, TDS. | THẨM PHÁN- CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Hồ Đức Quang |