vanban.org

Quyết định 345/2017/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bùi Thị Ngọc B và ông Dương

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: * Về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Bùi Thị Ngọc B và ông Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Ngọc B - Dương Minh S"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bùi Thị Ngọc B và ông Dương
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 345/2017/QĐST-HNGĐ Chợ Lách, ngày 01 tháng 12 năm 2017

Số: 345/2017/QĐST-HNGĐ Chợ Lách, ngày 1 tháng 12 năm 2017

HUYỆN CHỢ LÁCH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _ __________________________________ QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 301/2017/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2017, giữa: * Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Ngọc B - Sinh năm: 1983; địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre. * Bị đơn: Ông Dương Minh S - Sinh năm: 1984; địa chỉ: A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre. - Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự; - Căn cứ vào Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình; - Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 23 tháng 11 năm 2017.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 23 tháng 11 năm 2017 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bùi Thị Ngọc B và ông Dương Minh S. 2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: * Về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Bùi Thị Ngọc B và ông Dương Minh S không yêu cầu Tòa án giải quyết gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn. * Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: - Bà Bùi Thị Ngọc B và ông Dương Minh S thống nhất với nhau với nhau sau khi ly hôn bà Bùi Thị Ngọc B được quyền trực tiếp nuôi người con chung

giữa bà và ông S là Dương Bùi Ngọc T - Sinh ngày: 13/02/2012 (Ngọc T hiện đang sống chung với ông S, bà B). Bà Bùi Thị Ngọc B không yêu cầu ông Dương Minh S cấp dưỡng nuôi con. - Ông Dương Minh S có quyền thăm nom con; không ai được cản trở ông S thực hiện quyền này. Trong trường hợp ông S lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì bà B có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của ông S. - Vì lợi ích của con chung, bà Thị Ngọc B, ông Dương Minh S hoặc các nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi có lý do chính đáng, bà Bùi Thị Ngọc B, ông Dương Minh S có quyền thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. * Về tài sản, nợ chung: Bà Bùi Thị Ngọc B và ông Dương Minh S cùng xác định không có tài sản chung, không có nợ chung. Không có ai yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ có liên quan đến vụ án này nên không xem xét, giải quyết. * Về án phí: Các đương sự thống nhất thỏa thuận với nhau như sau: Bà Bùi Thị Ngọc B nhận chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 150.000đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0023879 ngày 06 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; bà Bùi Thị Ngọc B được hoàn trả lại số tiền chênh lệch là 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng). 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ