vanban.org

Quyết định 34/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện là 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Lê Đức A được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định. Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội huyện R có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện là 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 15 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN R
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:34/QĐ-TAR, ngày 15 tháng 9 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN R-TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán:

Ông Mai Danh Hòa

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hảo

Ngày 15 tháng 9 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện R, tỉnh Bình Phước tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 38/QĐ-TA ngày 10 tháng 9 năm 2021 đối với:

Họ và tên: Lê Đức A, sinh năm: 1994; giới tính: Nam.

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 10/12.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn 4, xã B, huyện R, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: không; Tiền án, Tiền sự: Không.

Con ông: Lê Phú Đ – sinh năm 1972 và bà: Trương Thị H – sinh năm 1973

Lê Đức A vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Cơ quan đề nghị: Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội huyện R, tỉnh Bình Phước;

Người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên họp: Ông Điểu Phúc – Chức vụ: Chuyên viên, Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội huyện R, tỉnh Bình Phước;

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện R: Ông Nguyễn Xuân Giáp – Kiểm sát viên.

3. Những người khác: Đại diện của Uỷ ban nhân dân xã B: Vắng mặt.

NHẬN THẤY:

Lê Đức A là đối tượng nghiện ma túy ở địa phương từ năm 2021, bản thân tụ tập với các đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn và đã được cơ quan Công an nhắc nhở, răn đe nhưng vẫn tái phạm.

Ngày 13-01-2021, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện R kết hợp với Công an xã B đưa đối tượng Lê Đức A về trụ sở công an xã làm việc, đồng thời phối hợp cùng Trạm y tế xã tiến hành thử test nhanh nước tiểu của Điểu Úc, kết quả dương tính với chất ma túy, qua làm việc đối tượng Lê Đức A khai nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình.

Ngày 17-01-2021, Ủy ban nhân dân xã B ra Quyết định giáo dục tại địa phương thời gian 03 tháng đối với Lê Đức A theo Quyết định số 01/QĐ-UBND. Trong thời gian áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương, Lê Đức A không lo làm ăn mà vẫn lén lút sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 27-4-2021, Công an xã B kết hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện R kết hợp với đưa đối tượng Lê Đức A về trụ sở Công an xã làm việc đồng thời phối hợp cùng Trạm y tế xã tiến hành thử test nhanh nước tiểu của Lê Đức A, kết quả dương tính với chất ma túy. Qua làm việc đối tượng Lê Đức A đã thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 10-5-2021, Hội đồng tư vấn xã B tiến hành họp xét nhất trí đưa Lê Đức A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng. Qua họp xét gia đình Lê Đức A đồng ý đưa Lê Đức A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 21-5-2021, Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội huyện R, tỉnh Bình Phước đề nghị Tòa án nhân dân huyện R xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Lê Đức A.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội huyện R có ý kiến: Lê Đức A đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, sau khi chấp hành xong biện pháp giáo dục tại địa phương vẫn không tự cai nghiện được mà tiếp tục tụ tập, sử dụng trái phép chất ma túy nên cần đưa Lê Đức A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 18 (mười tám) tháng đến 22 (Hai mươi hai) tháng để Lê Đức A có đủ thời gian cai nghiện, từ bỏ ma túy, trở về xã hội làm người công dân tốt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện R tham gia phiên họp phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Qua kiểm sát giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm mở phiên họp thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 14, Điều 16, Điều 17 và Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính 2014.

Về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Lê Đức A đã chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã, phường nhưng đến ngày 27-4-2021 Anh tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Điều 94, 95, 96 và Điều 105 Luật xử phạt vi phạm hành chính, Phòng Nội vụ - Lao động-Thương binh và Xã hội huyện R đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đưa đối Anh vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có cơ sở. Tuy nhiên, xem xét tính chất mức độ, hành vi sử dụng ma túy của Anh thì Phòng Nội vụ lao động đề nghị thời gian đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Anh như vậy là có cơ sở đề nghị Thẩm phán xem xét thời gian áp dụng cho phù hợp.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào ý kiến đề xuất của những người tham gia, xét thấy:

Người bị đề nghị Lê Đức A mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án. Nên vẫn tiến hành phiên họp theo thủ tục chung.

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đức A được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 4; khoản 1 Điều 9 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 và khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ; khoản 1 Điều 5 Thông tư 05/2018/TT-BCA ngày 07-02-2018 của Bộ công an quy định việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xét thấy, Lê Đức A là người đã thành niên, có đủ năng lực hành vi dân sự và nhận thức được ma túy là chất độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép. Nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân mà Lê Đức A vẫn bất chấp pháp luật tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy mặc dù đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương.

Về tình tiết giảm nhẹ: Không

Về tình tiết tăng nặng: Không

Hành vi của Lê Đức A không những gây mất trật tự trị an tại địa phương mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Do đó, để đảm bảo an toàn cho xã hội, tránh phát sinh các tệ nạn xã hội khác tại địa phương đồng thời tạo điều kiện để Lê Đức A có cơ hội sửa chữa bản thân, đoạn tuyệt với ma túy, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đức A với thời gian phù hợp.

Ý kiến của đại diện Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội là có cơ sở, nên được chấp nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 15 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đức A .

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện là 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Áp dụng Điều 30; Điều 31; Điều 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Lê Đức A được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định.

Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội huyện R có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội huyện phối hợp với Công an cấp huyện đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ