vanban.org

Quyết định 34/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/02/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông D chịu 300.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Quyết định được tống đạt hợp lệ; Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thờ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Ông Trần Phúc Duy yêu cầu tuyên bố con mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông D chịu 300.
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 34/2020/QĐST-DSQuận 10, ngày 27 tháng 02 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI MẤT NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Cao Thanh Hùng

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Anh Thư, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên họp: Bà Hồ Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 06/2020/TLST-DS ngày13 tháng 01 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 05/2020/QĐST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trần Phúc D, sinh năm 1984

Địa chỉ: 548 Vĩnh Viễn, Phường 6, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ông Trần Trọng T mắc bệnh tai biến từ tháng 2/2008, tình trạng hiện nay ông Trí thường xuyên bị động kinh, đi đứng rất yếu, rối loạn ngôn ngữ, mất trí nhớ và không nhận thức được sự vật xung quanh. Do cần xác định năng lực hành vi dân sự của ông T nên ông Trần Phúc D, là con ruột của ông T yêu cầu Toà án tuyên bố ông T mất năng lực hành vi dân sự.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số: 315/KLGĐ ngày 21/01/2020 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: ông Trần Trọng T sa sút tâm thần trong nhồi máu não nhiều lần, mức độ nặng (F01.1 – ICD10), đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Tòa án, đương sự và đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông D, tuyên bố ông Trần Trọng T mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 10 nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật: Xét hồ sơ khám bệnh, giấy ra viện cho thấy ông Trần Trọng T bị di chứng nhồi máu não hai bán cầu từ năm 2008, đến nay không nhận thức sự vật xung quanh. Ông D làm đơn yêu cầu là có cơ sở xác định đây là yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về thẩm quyền giải quyết: Xét người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự có địa chỉ cư trú tại Quận 10 nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Về tư cách tham gia tố tụng: Xét trích lục giấy khai sinh số 2081, quyển số 2_/84 ngày 04/06/1984 có cơ sở xác định ông Trần Phúc D là con ruột của ông T và đồng thời là người trực tiếp chăm sóc cho ông T nên ông D đủ tư cách yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T mất năng lực hành vi dân sự. Ông D có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên Tòa căn cứ Điều 361, Điều 367 tiến hành mở phiên họp vắng mặt các đương sự. [4] Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ lời trình bày của đương sự và Kết luận giám định pháp y tâm thần số 315/KLGĐ ngày 21/01/2020 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh thì Tòa án có đủ cơ sở xác định ông Trần Trọng T mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Việc ông D yêu cầu tuyên bố ông T mất năng lực hành vi dân sự là có cơ sở xem xét chấp nhận. [5] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000 (ba trăm nghìn đồng), ông D phải chịu theo quy định tại khoản 1, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 22 của Bộ luật Dân sự.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Phúc D. Tuyên bố: Ông Trần Trọng T, sinh năm 1956 mất năng lực hành vi dân sự.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông D chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí ông D đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0014237 ngày 02/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10. Ông D đã nộp đủ lệ phí Tòa án.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Quyết định được tống đạt hợp lệ; Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ