vanban.org

Quyết định 34/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Nh và Ah Nguyễn Đại H.

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung tên Nguyễn Tuệ A sinh ngày 22 tháng 9 năm 2016 cho chị Trần Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao con chung tên Nguyễn Văn B sinh ngày 28 tháng 11 năm 2011 cho Ah Nguyễn Đại H trực tiế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Nh xin ly hôn anh Nguyễn Đại H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Nh và Ah Nguyễn Đại H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2020/HNGĐ-ST
Ngày 20-03-2020
V/v Ly hôn, trAh chấp về nuôi con

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhã

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Sóng

Ông Doãn Văn Sáng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Hiến - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 959/2019/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2019 về Ly hôn, trAh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2020và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2020/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Nh sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.(Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ah Nguyễn Đại H sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07 tháng 11 năm 2019 cùng các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, chị Trần Thị Nh (nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Nh và Ah Nguyễn Đại H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, được tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy bA nhân dân xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33 ngày 27 tháng 4 năm 2011. Sau khi cưới vợ chồng sinh sống tại xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quA điểm trong cuộc sống, không tin tưởng nhau nên thường xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 01 năm 2018 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài và trầm trọng, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với Ah Nguyễn Đại H.

Về con chung: Chị Trần Thị Nh và Ah Nguyễn Đại H có hai con chung tên là Nguyễn Văn B sinh ngày 28 tháng 11 năm 2011 và Nguyễn Tuệ A sinh ngày 22 tháng 9 năm 2016. Hiện chị Nh đAg trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Tuệ A và Ah H trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Văn B. Hiện hai con tên Nguyễn Văn B và Nguyễn Tuệ A khỏe mạnh, phát triển bình thường nên chị đề nghị được tiếp tục nuôi con tên Nguyễn Tuệ A và Ah H tiếp tục nuôi con tên Nguyễn Văn B. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị đề nghị để chị và Ah Nguyễn Đại H tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Trần Thị Nh khai chị và Ah Nguyễn Đại H không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là Ah Nguyễn Đại H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng không trình bày quA điểm của mình.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng, bị đơn chưa tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về việc giải quyết nội dung vụ án thì đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc hội: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Nh và Ah Nguyễn Đại H. Giao con chung tên Nguyễn Tuệ A sinh ngày 22 tháng 9 năm 2016 cho chị Trần Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng; giao con tên Nguyễn Văn B sinh ngày 28 tháng 11 năm 2016 cho Ah Nguyễn Đại H trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do Chị Trần Thị Nh và Ah Nguyễn Đại H tự thỏa thuận giao nhận cho nhau. Về tài sản chung vợ chồng do Tòa án không thụ lý giải quyết khi ly hôn nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về các tài liệu, chứng cứ và tình tiết của vụ án:

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất: Về quA hệ hôn nhân, con chung và lý do đề nghị Tòa án giải quyết các quA hệ đó phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà đương sự giao nộp, phù hợp với tài liệu do Tòa án thu thập được, Ah Nguyễn Đại H không có ý kiến gì nên thuộc trường hợp không phải chứng minh; QuA hệ tài sản chung vợ chồng đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt vấn đề phải chứng minh.

Các tình tiết mà các bên không thống nhất: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án Ly hôn, trAh chấp về nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng. Chị Trần Thị Nh vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, Ah Nguyễn Đại H đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Trần Thị Nh và Ah Nguyễn Đại H.

Về hôn nhân: QuA hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Nh và Ah Nguyễn Đại H được xác lập theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33 ngày 27 tháng 4 năm 2011 của Ủy bA nhân dân xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quA điểm trong cuộc sống, không tin tưởng nhau, mâu thuẫn trở nên căng thẳng, trầm trọng dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân từ tháng 01 năm 2017 đến nay thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài và trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị Trần Thị Nh xin ly hôn với Ah Nguyễn Đại H. Vì vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Nh với Ah Nguyễn Đại H.

Về con chung: Chị Trần Thị Nh và Ah Nguyễn Đại H có hai con chung tên là Nguyễn Văn B sinh ngày 28 tháng 11 năm 2011 và Nguyễn Tuệ A sinh ngày 22 tháng 9 năm 2016. Khi ly hôn chị Trần Thị Nh đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Tuệ A sinh ngày 22 tháng 9 năm 2016 và giao con chung tên Nguyễn Văn B sinh ngày 28 tháng 11 năm 2011 để Ah H trực tiếp nuôi con chung. Ah Nguyễn Đại H không trình bày quA điểm. Tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của các đương sự thể hiện Ah Nguyễn Đại H và chị Trần Thị Nh có điều kiện, khả năng và thời giA để chăm sóc con chung tốt, con chung đAg do chị Trần Thị Nh và Ah Nguyễn Đại H nuôi dưỡng, khỏe mạnh và phát triển bình thường. Vì vậy áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung tên Nguyễn Văn B sinh ngày 28 tháng 11 năm 2011 cho Ah Nguyễn Đại H trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Nguyễn Tuệ A sinh ngày 22 tháng 9 năm 2016 cho chị Trần Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị Trần Thị Nh trình bày để tự thỏa thuận và Ah Nguyễn Đại H không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Trần Thị Nh và Ah Nguyễn Đại H không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Chị Trần Thị Nh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Nh và Ah Nguyễn Đại H.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung tên Nguyễn Tuệ A sinh ngày 22 tháng 9 năm 2016 cho chị Trần Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao con chung tên Nguyễn Văn B sinh ngày 28 tháng 11 năm 2011 cho Ah Nguyễn Đại H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2.2. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị Nh và Ah Nguyễn Đại H tự thỏa thuận giao nhận cho nhau.

3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Nh và Ah Nguyễn Đại H không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị Nh phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị Trần Thị Nh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tại Biên lai số 0003308 ngày 24 tháng 12 năm 2019; chị Trần Thị Nh đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Nh, Ah Nguyễn Đại H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ