vanban.org

Quyết định 34/2017/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 148/2017/TLST – HNGĐ, ngày

09 tháng 6 năm 2017 về việc“ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, giữa: Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1986. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đình chỉ"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 148/2017/TLST – HNGĐ, ngày
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 34/2017/QĐST – HNGĐ S, ngày 11 tháng 7 năm 2017

Số: 34/2017/QĐST – HNGĐ S, ngày 11 tháng 7 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm;

Xét thấy ngày 11 tháng 7 năm 2017, nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ T rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 148/2017/TLST – HNGĐ, ngày 09 tháng 6 năm 2017 về việc“ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, giữa: Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1986. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn N, sinh năm 1987. Đều cư trú tại: Số X đường Đ, thị trấn O, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. 2. Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho chị Lê Thị Mỹ T 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2014/0002244 ngày 09/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. 3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ