vanban.org

Quyết định 339/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T tại Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 16/9/2022. Trong thời gian chấp hành cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "dua di cai nghien"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T tại Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 339/QĐ-TA

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa

vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Ánh Nguyệt

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại:

Điểm cầu Trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ: 1400 đường Đồng Văn Cống, phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh);

Điểm cầu thành phần: Cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 (địa chỉ: ấp 3, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh)

Tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 303/2022/QĐ-TA ngày 29 tháng 11 năm 2022 đối với:

Đối với: Phạm Ngọc T; Sinh năm: 2001; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: không; nghề nghiệp: sửa xe; thường trú: K 1, thị trấn CN, huyện Cc, tỉnh CM; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; Con ông: Phạm Văn Ửvà con bà Trần Thị C; tiền án: phạm tội trộm cắp tài sản; tiền sự: không.

(Ông Phạm Ngọc T có đơn yêu cầu vắng mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức: Ông Lý Hồ Nhựt Hoàng – Chức vụ: Chuyên viên

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên họp: Ông Võ Cao Hùng - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Vào lúc 10 giờ 00 phút, ngày 16/9/2022, Công an phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nghi vấn ông Phạm Ngọc T có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên đã phối hợp với Trạm y tế phường Linh Trung xét nghiệm nhanh về ma túy đối với ông Phạm Ngọc T. Kết quả xét nghiệm, ông Phạm Ngọc T dương tính với chất ma túy nên Công an phường Linh Trung đã lập biên bản vi phạm hành chính để xử lý theo quy định pháp luật.

Ngày 16/9/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức ban hành Quyết định số 765/QĐ-UBND đưa ông Phạm Ngọc T vào Cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 23/11/2022 Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức có văn bản số 1307/LĐTBXH đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T với thời gian đề nghị cai nghiện bắt buộc từ 12 đến 24 tháng.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên ý kiến đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T vì nghiện ma túy và không có nơi cư trú ổn định. Tuy nhiên sau khi bị tạm giam, ông Phạm Ngọc T đã nhận thấy tác hại của ma túy và có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đề nghị Tòa án xem xét giảm một phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ông Phạm Ngọc T có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp và ông đồng ý việc Tòa án mở phiên họp xem xét đưa ông đi cai nghiện bắt buộc.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, về tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Tòa án, thẩm phán được phân công giải quyết việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T đã thực hiện đúng về thụ lý, thông báo thụ lý vụ việc, quyết định mở phiên họp và tại phiên họp đã thực hiện đúng trình tự thủ tục qui định tại Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014. Đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T vì nghiện ma túy và không có nơi cư trú ổn định.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, có cơ sở xác định:

Ông Phạm Ngọc T đã có hành vi vi phạm hành chính về việc sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị Công an phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện vào ngày 16/9/2022. Căn cứ vào Phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy do Bệnh viên Lê Văn Thịnh lập ngày 16/9/2022 xác định ông Phạm Ngọc T nghiện ma túy, tên loại ma túy Heroin, ông Phạm Ngọc T thừa nhận có sử dụng ma túy. Do đó, có cơ sở xác định ông Phạm Ngọc T nghiện ma túy.

Theo kết quả xác minh của Công an xác định ông Phạm Ngọc T có hộ khẩu thường trú tại K 1, thị trấn CN, huyện Cc, tỉnh CM nhưng không thực tế cư trú tại địa phương và không thực tế cư trú tại số 88A khu phố Cầu Ông Tán, phường Long Bình, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Như vậy, có căn cứ xác định ông Phạm Ngọc T không có nơi cư trú ổn định.

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T đã được cơ quan chức năng thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định tại các Điều 103; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 2 Điều 3, Điều 4, khoản 1 Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về ý kiến của người đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến nghiện ma túy của ông Phạm Ngọc T là một tệ nạn xã hội, không những trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, gây thiệt hại vật chất, tinh thần của họ, mà còn là một hệ lụy mà cộng đồng và xã hội phải gánh chịu, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác.

Tuy nhiên, trong quá trình bị tạm giữ ông Phạm Ngọc T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cần giảm một phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ Điều 95, 96, 105 và Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Căn cứ khoản 2 Điều 3; Điều 4; khoản 1 Điều 8; Điều 9; Điều 10; Điều 11; Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Căn cứ Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Căn cứ Điều 9, Điều 20, Điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/ 01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T tại Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 16/9/2022.

Trong thời gian chấp hành cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Ông Phạm Ngọc T có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức (Trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: xã Phú Văn, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước).

Cỡ chữ