- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số:338/2023/QĐST-DS | C, ngày 27 tháng 7 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI
MẤT NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Hòa
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Diệu – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 48/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2023, về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 353/2023/QĐST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963.
Địa chỉ: Số 172/42, tổ 3A, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Số 172/42, tổ 3A, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1962 (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Tấn Q, sinh năm 1997 (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số 172/42, tổ 3A, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự ngày 15/12/2022 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, người yêu cầu giải quyết việc dân sự – ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị Đ là vợ chồng có đăng ký kết hôn năm 1994 tại Ủy ban nhân dân huyện C, quá trình chung sống có 02 con chung là Nguyễn Ngọc A sinh năm 1992 và Nguyễn Tấn Q sinh năm 1997. Trong đó, Nguyễn Ngọc A đã bị bệnh thần kinh từ lúc nhỏ, gia đình đã nhiều lần đưa cháu A đi chữa trị nhưng bệnh ngày càng trầm trọng và được chẩn đoán là bị thần kinh – tâm thần, không có khả năng nhận thức, sống phục thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc của gia đình.
Hiện nay, ông T và bà Đ đang thực hiện thủ tục ly hôn và phân chia tài sản nên ông T đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1992, địa chỉ: Số 172/42, tổ 3A, ấp Phú Hiệp, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, mất năng lực hành vi dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Trần Thị Đ và ông Nguyễn Tấn Q trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Văn T, yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Ngọc A bị mất năng lực hành vi dân sự. Bà Đ và ông Q có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Tại phiên họp giải quyết việc dân sự người yêu cầu là ông Nguyễn Văn T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Đ và ông Nguyễn Tấn Q đều đã có Đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và giữ nguyên các ý kiến đã trình bày nên Chủ tọa phiên họp tiến hành giải quyết vắng mặt ông T, bà Đ, ông Q.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên họp phát biểu:
+ Về thủ tục tố tụng: Tòa án thực hiện đúng theo quy định tại tại Điều 48, Điều 366, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ việc
+ Về nội dung: Căn cứ vào lời trình bày của ông T: Ông và bà Trần Thị Đ đăng ký kết hôn năm 1994 tại UBND huyện C và có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1992 và Nguyễn Tấn Q, sinh năm 1997. Trong đó Nguyễn Ngọc A bị bệnh thần kinh từ nhỏ, gia đình đã đưa đi chữa trị nhưng bệnh ngày càng trầm trọng và được chẩn đoán là bệnh thần kinh-tâm thần- trí tuệ, không có khả năng nhận thức. Nay do có yêu cầu ly hôn và phân chia tài sản. Do đó ông yêu cầu Tòa án tuyên bố con gái ông là Nguyễn Ngọc A mất năng lực hành vi dân sự.
Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 2533/KLGĐ ngày 12/4/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh cùng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc đã đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T; đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Ngọc A mất năng lực hành vi dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện C nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Ông Nguyễn Văn T yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1992, có địa chỉ 172/42, tổ 3A, ấp Phú Hiệp, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C.
Về yêu cầu của người yêu cầu:
Căn cứ vào lời trình bày của ông Nguyễn Văn T, các tài liệu do ông T cung cấp và tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định: bà Nguyễn Ngọc A là con ruột ông Nguyễn Văn T, đã bị bệnh từ nhỏ, gia đình đã đưa cháu đi chữa trị nhưng bệnh ngày càng trầm trọng và được chẩn đoán là bị thần kinh – tâm thần, không có khả năng nhận thức, sống phục thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc của gia đình.
Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 2533/KLGĐ ngày 12/4/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận bà Nguyễn Ngọc A sinh năm 1992, như sau:
“Về y học: đương sự bị động kinh/chậm phát triển tâm thần độ nặng (G40/F72-ICD10)
Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.”
Như vậy, căn cứ vào Kết luận của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có đủ cơ sở xác định bà Nguyễn Ngọc A mất năng lực hành vi dân sự theo khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Từ những nhận định trên, Tòa án xét thấy có đủ cở sở chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc tuyên bố bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1992, mất năng lực hành vi dân sự.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 27; khoản 2 Điều 35; Điều 39; Điều 372; Điều 377; Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Văn T.
Tuyên bố bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1992, địa chỉ: 172/42, tổ 3A, ấp Phú Hiệp, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, mất năng lực hành vi dân sự.
2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu số AA/2022/0020682 ngày 13/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp không có mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được quyết định hoặc được thông báo, niêm yết hợp lệ.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND H.C; - THADS H.C; - UBND xã P, huyện C; - Đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Hòa |