vanban.org

Quyết định 337/2018/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Nguyễn Thị L và ông Trần Chí

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: 1 Về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Bà Nguyễn Thị L và ông Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L - Trần Chí L"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Nguyễn Thị L và ông Trần Chí
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN CHỢ LÁCH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG S Ự

Căn cứ hồ sơ vụ ánh ôn nhân và gia đìn hthụ lý số: 331/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2018, giữa : Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L - Sinh năm: 1994; Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện D, tỉnh Bắc Giang. Bị đơn: Ông Trần Chí L - Sinh năm: 1983; Địa chỉ: ấp D, xã E, huyện C, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 22 tháng 10 năm 2018.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 22 tháng 10 năm 2018 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Nguyễn Thị L và ông Trần Chí L. 2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: 2.1 Về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Bà Nguyễn Thị L và ông Trần Chí L không yêu cầu Tòa án giải quyết gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn. 2.2 Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: - Bà Nguyễn Thị L và ông Trần Chí L có 02 (hai) người con chung là Trần Bảo N1 - Sinh ngày: 24/8/2012 (hiện đang sống chung với ông L) và Trần Bảo N2 - Sinh ngày: 20/5/2015 (hiện đang sống chung với bà L). Bà Nguyễn Thị L được

quyền tiếp tục trực tiếp nuôi người con tên Trần Bảo N2 - Sinh ngày: 20/5/2015, bà Nguyễn Thị L không yêu cầu ông Trần Chí L phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Trần Chí L được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi người con tên Trần Bảo N1 - Sinh ngày: 24/8/2012, ông Trần Chí L không yêu cầu bà Nguyễn Thị L phải cấp dưỡng nuôi con. - Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con . - Vì lợi ích của con chung, bà Nguyễn Thị L, ông Trần Chí L hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. - Khi có lý do chính đáng bà Nguyễn Thị L, ông Trần Chí L có thể thỏa thuận giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. 2.3 Về tài sản, về nợ: Không có, không có ai yêu cầu Tòa án giải quyết gì về tài sản và nợ có liên quan đến vụ án này nên không xem xét, giải quyết 2.4 Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L nhận chịu 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020266 ngày 02 tháng 10 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bến Tre; bà L được hoàn trả lại số tiền chênh lệch là 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng) . 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ