vanban.org

Quyết định 332/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 07/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “C ớp iật tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Anh T 01 một năm 06 S th n t . Thời hạn ch p hành hình phạt tính t ngày ch p hành án. Về xử lý vật chứn : C n cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Anh T phạm tội “cướp giật tài sản” - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “C ớp iật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP.BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK
ơ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 332/2023/HS-ST
Ngày 07/11/2023.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Viết Thống

Ông Nguyễn Lập Tiến.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên toà: Ông Hu nh Ngọc Hoàng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 n m 2023, tại ph ng xử án A, trụ sở T a án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 338/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 10 n m 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 343/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 10 n m 2023 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Anh T tên gọi khác: Không ; Sinh ngày 10 tháng 3 n m 1992; Tại tỉnh Đắk Lắk.

Nơi ĐKTT và cư trú: Số C Y, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học v n: 10/12; con ông Lê Hữu H, sinh n m 1960; Con bà Hoàng Thị H1, sinh n m 1963; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ng n ch n C m đi kh i nơi cư trú, kể t ngày 24/7/2023 cho đến nay – Có mặt.

- N i h i: Bà Lưu Thị N, sinh n m: 1975. Trú tại: Số A Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ( vắn mặt).

- N i àm ch n : Bà Hồ Thị L, sinh n m: 1972. Trú tại: Số B L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ( vắn mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 18/7/2023, Lê Anh T đi bộ t nhà, đến khu vực đền Ông C, ở địa chỉ: A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thì th y bà Lưu Thị N và bà Hồ Thị L đi vào đền Ông C trên tay cầm 01 túi xách nữ màu nâu, có họa tiết màu vàng, kích thước 12x18x23 cm, có quai xách, nên T nảy sinh ý định chờ bà N đi ra để cướp giật túi xách c a bà N.

Khoảng 30 phút sau, bà N và bà L đi bộ ra kh i đền Ông C, hướng đi về phía T. Lúc này bà N cầm túi xách trên tay trái đi đến vị trí cách T khoảng 50 cm thì T đã dùng tay phải giật l y túi xách c a bà N rồi nhanh chóng chạy bộ theo bờ suối bên hông đền Ông C tẩu thoát. Chạy được khoảng 200m thì T d ng lại và mở chiếc túi xách ra kiểm tra, th y bên trong túi xách có số tiền 90.000đồng gồm 01 tờ tiền mệnh giá 50.000đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 20.000đồng và một C n cước công dân mang tên Lưu Thị N. T l y số tiền 90.000đồng, b lại chiếc túi xách cùng c n cước công dân và đi theo bờ suối về nhà, sau đó, T tiêu xài cá nhân hết số tiền 80.000đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 151/KL-HĐĐGTS ngày 16/8/2023 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 túi xách nữ màu nâu, có họa tiết màu vàng, kích thước 12x18x23 cm, có quai xách tay, có chữ Jinshimao, đã qua sử dụng, trị giá: 150.000đồng.

Cáo trạng số 338/CT-VKS-HS ngày ngày 18 tháng 10 n m 2023 c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “C ớp iật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự BLHS .

Tại phiên t a bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên t a giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Qua phân tích, đánh giá tính ch t, mức độ do hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra, đồng thời đề cập các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đề nghị HĐXX:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh T phạm tội “C ớp iật tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS:

Xử phạt bị cáo Lê Anh T mức án t 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tính t ngày ch p hành án.

- Về xử lý vật chứng: Ch p nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại 01 túi xách nữ màu nâu, 01 c n cước công dân mang tên Lưu Thị N và số tiền 10.000đồng cho ch sở hữu.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu nên không đ t ra để xem xét.

Bị cáo không tranh luận gì thêm. Bị cáo nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, T a án nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, theo quy định c a Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì và khiếu nại về hành vi c a những người tiến hành tố tụng, quyết định c a cơ quan tiến hành tố tụng.

Tại phiên t a, người bị hại vắng m t. Xét th y quá trình điều tra những người này đều đã có lời khai, nội dung vụ án đã được làm rõ nên việc xét xử vắng m t những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng m t theo Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự n m 2015 là phù hợp.

Xét lời khai c a bị cáo tại phiên t a cơ bản phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Qua đó có đ c n cứ kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản c a người khác nên khoảng 08 giờ 30 phút ngày 18/7/2023, tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Lê Anh T đã cướp giật tài sản c a bà Lưu Thị N 01 túi xách nữ cầm tay, màu nâu, trị giá 150.000đồng, bên trong có số tiền 90.000đồng. Tổng giá trị tài sản cướp giật là 240.000đồng. Hành vi c a bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố về tội “C ớp iật tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS n m 2015 là có c n cứ pháp luật.

Khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

“1. N i nào c ớp iật tài sản của n i khác, thì ph t tù từ 01 năm đến 05 năm…”

Xét tính ch t, mức độ do hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản c a bị hại, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm m t trật tự trị an tại địa phương nên cần áp dụng mức hình phạt tương ứng với tính ch t, mức độ do hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra.

Về tình tiết t ng n ng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo đã thành khẩn khai báo, n n n hối cải, được người bị hại làm đơn bãi nại và có thời gian tham gia quân ng được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng c a pháp luật Nhà nước ta như đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát về hình phạt là phù hợp với tính ch t, mức độ do hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra nên cần ch p nhận.

Về xử lý vật chứng: C n cứ Điều 47 Bộ luật hình sự n m 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự n m 2015:

Quá trình điều tra xác định, 01 túi xách nữ màu nâu, có hoạ tiết màu vàng, kích thước 12x18x23 cm, có quai xách tay, có chữ Jinshimao; 01 c n cước công dân mang tên Lưu Thị N và số tiền 10.000 đồng, là tài sản và gi y tờ tùy thân thuộc quyền sở hữu c a bà Lưu Thị N. Ngày 21/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản và gi y tờ tùy thân trên cho bà Lưu Thị N quản lý, sử dụng là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: C n cứ các điều 46, 48 Bộ luật hình sự; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự:

Sau khi nhận lại tài sản và gi y tờ tùy thân, bà Lưu Thị N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Đối với số tiền 80.000 đồng mà bị cáo Lê Anh T đã tiêu xài cá nhân hết, bà Lưu Thị N không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “C ớp iật tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Anh T 01 một năm 06 S th n t . Thời hạn ch p hành hình phạt tính t ngày ch p hành án.

3. Về xử lý vật chứn : C n cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Ch p nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại 01 túi xách nữ màu nâu, 01 c n cước công dân và số tiền 10.000đồng cho bà Lưu Thị N là ch sở hữu nhận quản lý sử dụng.

4. Về tr ch nhiệm dân sự: C n cứ các điều 46, 48 Bộ luật hình sự; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự:

Bà Lưu Thị N không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

5. Về n phí: C n cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí T a án.

Buộc bị cáo Lê Anh T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm n hìn đồn ) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm bị cáo có m t tại phiên t a được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể t khi tuyên án. Người bị hại vắng m t tại phiên t a được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể t ngày nhận ho c bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ