- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Căn cứ Điều 164, Điều 166 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 330/2023/DS-ST Ngày: 27-10-2023 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Hoàng Nghiệp;
2. Bà Nguyễn Thi ̣ Lợi.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Thắm – Thư ký Toà án nhân dân huyện An Phú.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 245/2020/TLST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 461/2023/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 484/2023/QĐST-DS ngày 15 tháng 9 năm 2023 và Quyết định ta ̣m ngừ ng phiên tòa số: 493/2023/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ E, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn X (S), sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ E, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn D, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
- Ông Trần Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
- Ông Trần Văn S1, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn D, ông Trần Văn T, ông Trần Văn S1: Bà Lê Thị L, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ E, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (theo Văn bản ủy quyền ngày 25/9/2020).
- Bà Trình Thị P, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ E, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.
- Cháu Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 06/10/2004; địa chỉ: Tổ E, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.
- Cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 29/6/2011; địa chỉ: Tổ E, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Văn T2 và cháu Nguyễn Thị Ngọc H: Ông Nguyễn Văn X (S), sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ E, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ I, khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang.
- Bà Lê Thị N, sinh năm 1980; địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.
- Ủy ban nhân dân (UBND) huyện A, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật của UBND huyện A: Ông Trần Hòa H1, chức vụ: Chủ tịch UBND huyện A, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Hòa H1: Bà Nguyễn Thị N1, chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện A, tỉnh An Giang (theo Giấy ủy quyền số 198/UQ-UBND ngày 13/9/2023 của Chủ tịch UBND huyện A, tỉnh An Giang).
Bà Lê Thị L, ông Nguyễn Văn X (S) và bà Trình Thị P có mặt; bà Lê Thị N vắng mă ̣t không rõ lý do; ông Nguyễn Văn C và đa ̣i diê ̣n UBND huyện A có yêu cầu xét xử vắng mă ̣t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn; cùng các tài liê ̣u, chứ ng cứ có trong hồ sơ, nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:
Bà Lê Thị L là con của ông Lê Văn L1 (liệt sỹ) và bà Huỳnh Thị H2 (chết năm 2019). Bà L sinh sống cũng bà H2 từ nhỏ cho đến khi lập gia đình. Năm 2003, gia đình có đăng ký mua trả chậm nền nhà và khung nhà tiền chế tuyến dân cư xã K, huyện A theo đối tượng gia đình chính sách và được UBND huyện A phê duyệt vớ i nền nhà số B, lô H, ngang 06 m, dài 18 m với tổng diện tích là 108 m2 tọa lạc tại cụm dân cư xã K thuộc ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang theo Quyết định số 668/QĐ.UB ngày 13/8/2004 (sau đây go ̣i tắt là Quyết đi ̣nh 668) về việc phê duyệt danh sách xét duyệt phân phối nền nhà C1 dân cư xã K của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện A.
Năm 2006, bà H2 có cho con riêng là ông Nguyễn Văn S2 (Xương) cùng vợ là bà Trình Thị P về nhà ở nhờ. Bà L và chồng đi làm ăn xa nên để 02 con là ông Trần Văn T, ông Trần Văn S1 ở lại chung sống với bà H2, thỉnh thoảng bà L về nhà thăm bà H2 và các con.
Ngày 16/3/2019, bà H2 chết không để lại di chúc. Bà L có thỏa thuâ ̣n với ông X sẽ hỗ trợ cho ông X một số tiền di dời đến nơi ở khác để bà L tu sửa và trở về sinh sống, thờ cúng cha mẹ. Ông X không đồng ý vì cho rằng căn nhà này do ông X thừa hưởng từ bà H2. Do đó, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn X (S2), bà Trình Thị P, cháu Nguyễn Thị Ngọc H, cháu Nguyễn Văn T2 phải di dời nhà, trả lại đất có diện tích 108 m2 để bà L trở về sinh sống, thờ cúng cha mẹ, giữ gìn nhà và đất được nhà nước cấp do là con của liệt sĩ.
Bị đơn ông Nguyễn Văn X (S2) cho biết: Bà Huỳnh Thị H2 (đã chết) là mẹ ruột ông X và được tặng thưởng huy chương kháng chiến vào năm 2012. Năm 2004, chính quyền địa phương di dời dân vào cụm tuyến dân cư, do hoàn cảnh gia đình thuộc diện khó khăn, hộ nghèo nên UBND xã K xem xét cấp cho 01 nền nhà thuộc tuyến Cụm dân cư xã K thuộc ấp A, xã K, huyện A. Đến năm 2006 thì ông X đến cất nhà ở và nuôi bà H2 cho đến khi bà H2 qua đời. Sau khi bà H2 qua đời thì bà L cho rằng nền nhà được cấp cho liệt sĩ nên xảy ra tranh chấp.
Ông Nguyễn Văn X (S2) còn cho rằng, nền nhà số B, lô 8, ngang 06 m, dài 18 m với tổng diện tích là 108 m2 tọa lạc tại cụm dân cư xã K thuộc ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang được cấp cho hộ bà Huỳnh Thị H2 theo lời trình bày của bà L không phải là nền nhà mà ông X đang sinh sống. Nền nhà mà ông X đang sinh sống được ông và bà H2 mua trả châ ̣m theo diê ̣n hô ̣ nghèo. Theo đó, ông X cung cấp “Phiếu bốc thăm phân lô, nền tuyến dân cư xã K” nền số 91, lô 08. Do đó, ông X không đồng ý vớ i yêu cầu khở i kiê ̣n của bà L.
Ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃
liên quan đến vu ̣ án bà Lê Thị N cho biết: Bà N không có ý kiến đối vớ i yêu cầu khở i kiê ̣n của bà L, bà N yêu cầu Tòa án hòa giải cho bà L và ông X để anh em không còn tranh chấp. Ngoài ra, bà N không có yêu cầu nào khác.
Ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃
liên quan đến vu ̣ án ông Nguyễn Văn C không có ý kiến đối vớ i yêu cầu khở i kiê ̣n của bà L, có yêu cầu được vắng mă ̣t khi Tòa án xét xử . Ngoài ra, ông C không có yêu cầu nào khác.
Ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃
liên quan đến vu ̣ án bà Trình Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t, không có yêu cầu nào khác.
Ông Trần Văn D, ông Trần Văn T, ông Trần Văn S1 yêu cầu Tòa án giải quyết buô ̣c ông Nguyễn Văn X (S2), bà Trình Thị P, cháu Nguyễn Thị Ngọc H, cháu Nguyễn Văn T2 phải di dời nhà, trả lại đất có diện tích 108 m2 cho bà Lê Thị L do nền nhà này được cấp cho đối tượng chinh sách thân nhân liê ̣t si Lễ
́ Văn L1 là bà Lê Thị L. Ông D, ông T, ông S1 xác đi ̣nh là những ngườ i trong hô ̣ gia đinh ta ̣i thờ i điểm cấp nền nhà, các ông không có yêu cầu được nhâ ̣n nền nhà
̀ mà giao la ̣i nền nhà này cho bà L được toàn quyền sử du ̣ng.
Theo Công văn số 870/UBND-NC ngày 19 tháng 7 năm 2023, Ủy ban nhân dân huyện A cho biết: Hô ̣ bà Huỳnh Thị H2 được UBND xã K mô ̣t nền nhà giá cơ bản ta ̣i cu ̣m dân cư xã K và được UBND huyện A phê duyê ̣t ta ̣i Quyết đi ̣nh 668. Nền nhà mà hô ̣ bà Huỳnh Thị H2 đang sử du ̣ng là nền nhà số B, lô 8 thuô ̣c thử a đất số 132, tờ bản đồ số 14, diê ̣n tich 108 m2 nằm trên mă ̣t bằng
́ quy hoa ̣ch phân lô cu ̣m dân cư trung tâm xã K đa đượ̃
c Sở Xây dựng tỉnh A phê duyê ̣t ngày 16 tháng 3 năm 2017. Ngoài ra, theo Công văn số 1266/UBND-NC ngày 26 tháng 10 năm 2023, UBND huyện A đề nghi ̣ Tòa án yêu cầu nguyên đơn, bi ̣ đơn cung cấp hồ sơ, chứ ng cứ có liên quan để xét xử vu ̣ án dân sự đúng theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên họp, bà Lê Thị L và ông Nguyễn Văn X (Sương) thống nhất với các tài liệu, chứng cứ mà Tòa án công khai, xác định đã cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Do các đương sự đều giữ nguyên yêu cầu của mình nên hòa giải không thành.
Tòa án ban hành Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Thông báo về việc giao nộp bản tự khai và tài liệu, chứng cứ để các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Về tài liệu, chứ ng cứ :
Các tài liệu, chứng cứ do bà L giao nộp: Bản chính Đơn xin miễn tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án; bản chính Đơn yêu cầu được trợ giúp pháp lý; bản photo Văn bản cam kết không bỏ sót người thừa kế; bản chính Tờ tường trình; bản photo Quyết định số 668/QĐ.UB ngày 13/8/2004 của Chủ tịch UBND huyện A về việc phê duyệt danh sách xét duyệt phân phối nền nhà cụm dân cư xã K, kèm theo danh sách các hộ được cấp; thông báo số 23/TB-UBND ngày 28/6/2019 của UBND xã K về việc giải quyết tranh chấp đất đai; bản sao bằng Tổ quốc ghi công, các quyết định công nhận liệt sĩ; bản sao Sổ hộ khẩu gia đình mang tên Trần Văn D và Giấy chứng minh nhân dân mang tên Lê Thị L.
Các tài liệu, chứng cứ do ông X giao nộp: Bản photo sổ hộ khẩu gia đình mang tên Huỳnh Thị H2; bản photo Huy chương kháng chiến hạng nhất mang tên Huỳnh Thị H2; bản photo Bằng Tổ quốc ghi công mang tên Lê Văn L1; bản chính Tờ tường trình mang tên Nguyễn Văn X; bản photo Phiếu bốc thăm, phân lô, nền tuyến dân cư xã K.
Các tài liệu, chứng cứ do ông Trần Văn D, ông Trần Văn T, ông Trần Văn S1 giao nô ̣p: Bản chinh bản tự khai.
́
Các tài liê ̣u, chứ ng cứ do bà Trình Thị P, ông Nguyễn Văn C, bà Lê Thị N giao nộp: Không có.
Các tài liệu chứng cứ do Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh An Giang giao nộp: Bản chính Giấy ủy quyền số 53/UB-UBND ngày 22/3/2023 của Chủ tịch UBND huyện A, tỉnh An Giang; bản chinh Công văn số 870/UBND-NC ngày
́
19 tháng 7 năm 2023, Ủy ban nhân dân huyện A.
Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Bản vẽ hiện trạng khu đất ngày 03/10/2022 của Văn phòng Đ – Chi nhánh A; biên bản định giá tài sản ngày 26/8/2022; biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/8/2022; Công văn số 53/TA-TTDS ngày 24/3/2022 của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện A; bản chinh Công văn số 18/TGPL-HCTH ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Trung tâm
́ Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A; Biên bản xác minh ta ̣i Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện A ngày 04/10/2023; Biên bản xác minh ta ̣i cán bô ̣ hưu tri phu ̣ trách ngườ i có công trướ c năm 2004 của Ủy ban nhân dân xã K ngày
́ 04/10/2023; biên bản lấy lờ i khai ngườ i làm chứ ng ngày 04/10/2023; biên bản lấy lờ i khai của ngườ i làm chứ ng ngày 17/10/2023; Công văn số 03/CAH-QLHC ngày 02/10/2023 của Công an huyện A; Công văn số 04/CAH-QLHC ngày 24/10/2023 của Công an huyện A; bản sao Trich lu ̣c kết hôn số
́ 868/TLKH-BS ngày 29/9/2023.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự không giao nộp, bổ sung thêm tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.
Ta ̣i phiên tòa,
Bà Lê Thị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Nguyễn Văn X (S2), bà Trình Thị P, cháu Nguyễn Thị Ngọc H, cháu Nguyễn Văn T2 phải di dờ i nhà và tài sản trên đất, trả la ̣i cho bà L phần đất là nền nhà số B, lô 8 thuô ̣c thử a đất số 132, tờ bản đồ số 14, diê ̣n tich 108 m2, bà L tự nguyê ̣n hỗ trợ cho
́
ông X, bà P số tiền 30.000.000 (ba mươi triê ̣u) đồng. Bà L cũng rút la ̣i yêu cầu hủy Quyết đi ̣nh số 668/QĐ-UBND ngày 13 tháng 8 năm 2004 của Ủy ban nhân dân huyện A.
Ông Nguyễn Văn X giữ nguyên lờ i trinh bày, không đồng ý vớ i yêu cầu
̀
khở i kiê ̣n của bà Lê Thị L. Ngoài ra, ông X còn cho biết, nếu bà L chứ ng minh được là con của liê ̣t si Lê Văn L1 thĩ
ông X se trã ̉ la ̣i đất cho bà L. Ngoài ra, nhà
̀
vê ̣ sinh đa đượ̃
c ông X xây dựng kiên cố, nên viê ̣c di dờ i là không thể thực hiê ̣n, nếu di dờ i thi chỉ có thể đâ ̣p bỏ.
̀
Ngoài ra, bà L và ông Xương c thống nhất xác đi ̣nh thi ông L và bà H2
̀ còn có các anh em cùng me ̣ (bà Huỳnh Thị H2), khác cha là bà Lê Thị N, ông Nguyễn Văn C.
Bà Trình Thị P giữ nguyên lờ i trinh bày, yêu cầu Tòa án giải quyết theo
̀
quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
- Theo bản ve hiê ̣̃
n tra ̣ng khu đất ngày 03/10/2022 của Văn phòng Đ – chi nhánh A: Các điểm 4, 8, 19, 14 có diê ̣n tich 108,0 m2 là phần đất thuô ̣c thử a số
́
132, tờ bản đồ số 14 do phia bà L chỉ dẫn thuô ̣c Khu dân cư Trung tâm xã K,
́ chưa được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất. Các điểm 5, 6, 10, 11, 12, 13 có diê ̣n tich 52,9 m2 là các góc nhà gỗ + chuồng gà bằng gỗ. Các điểm 15, 16,
́ 17, 18 có diê ̣n tich 2,20 m2 là các góc nhà vê ̣ sinh xây bê tông. Đoa ̣n 7 đến 9 là
́ vi ̣ tri hàng tru ̣ sắt (chưa đổ bê tông).
́
- Theo biên bản đi ̣nh giá tài sản ngày 26/8/2022:
+ Đất nằm trong cu ̣m tuyến dân cư xã K, loa ̣i đất ở nông thôn có giá: 385.000 đồng/ m2 x 108 m2 = 41.580.000 đồng.
+ Tài sản trên đất:
. Nhà ta ̣m, kết cấu mái tole , vách tole, khung gỗ ta ̣p, nền lát ga ̣ch tàu có giá: 69.716.000 đồng.
. Tra ̣i chăn nuôi (chuồng gà), kết cấu mái tole, vách tole, khung gỗ ta ̣p, nền đất có giá: 3.209.000 đồng.
. Nhà vê ̣ sinh, kết cấu tườ ng ga ̣ch xây, mái tole, đáy đan bê tông cốt thép có giá: 12.558.000 đồng.
Tổng cô ̣ng: 85.483.000 đồng.
Ngoài các tài sản nêu trên thi trên đất không có cây trồng, tài sản nào
̀
khác.
- Theo Công văn số 17/TTPTQĐ-DC ngày 30 tháng 3 năm 2022, Trung tâm phát triển quy đẫ ́t huyện A cho biết: Hô ̣ bà Huỳnh Thị H2 được UBND xã K xét duyê ̣t 01 nền nhà giá cơ bản ta ̣i cu ̣m dân cư trung tâm xã K và được UBND huyện A phê duyê ̣t ta ̣i Quyết đi ̣nh số 668/QĐ-UBND ngày 13/8/2004. Theo danh sách rà soát nền nhà của UBND xã K thi hô ̣ bà Huỳnh Thị H2 đang
̀ sử du ̣ng nền nhà số B, lô 8 thuô ̣c thử a số 132, tờ bản đồ số 14, diê ̣n tich 108 m2.
́ Đến nay, hô ̣ bà Huỳnh Thị H2 chưa nô ̣p tiền nền nhà.
- Theo Công văn số 18/TGPL-HCTH ngày 14 tháng 3 năm 2023, Trung tâm T cho biết: Nguyên đơn Lê Thị L thuô ̣c đối tượng con liê ̣t si nhưng không̃ có sổ hô ̣ nghèo câ ̣n nghèo hoă ̣c Quyết đi ̣nh hưở ng trợ cấp xa hô ̣̃ i hàng tháng. Do đó, bà L không đủ điều kiê ̣n để được Trợ giúp pháp lý theo quy đi ̣nh ta ̣i điểm 7 Điều 33 Thông tư 08/20217/TT-BTP ngày 15/11/2017.
- Theo biên bản xác minh ngày 04/10/2023, phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện A, tỉnh An Giang cho biết: Thân nhân của liê ̣t si Lê Văñ L1 (số hồ sơ:AGG/LS 7582) bao gồm: Bà Lê Thị L, sinh năm 1971; nguyên quán: Xã P, huyện A, tỉnh An Giang; bà L có quan hê ̣ là con ruô ̣t của liê ̣t si Lễ Văn L1 (theo bản khai ngày 15/9/1994). Ngoài bà L và bà H2 thi liê ̣t si Lê Văñ
̀ L1 không có thân nhân nào khác. Bà Huỳnh Thị H2, sinh năm 1942, nguyên quán: Ấp C, xã K, huyện A, tỉnh An Giang; bà H2 có quan hê ̣ là vợ liê ̣t si Lễ Văn L1, đa tã ́i giá (theo bản khai ngày 10/5/1997). Bà Huỳnh Thị H2 được công nhâ ̣n là vợ của liê ̣t si tữ ̀ năm 1997, chỉ được hưở ng các chế đô ̣ dành cho thân nhân của liê ̣t si, không đượ̃
c công nhâ ̣n là đối tượng chinh sách cũng như được
́ hưở ng các chế đô ̣ chinh sách dành cho ngườ i có công khác. Bà H2 chỉ được
́ công nhâ ̣n chinh sách kể từ ngày 06/11/2012 theo Quyết đi ̣nh số 1874 ngày
́ 06/11/2012 của Chủ ti ̣ch nướ c về viê ̣c tă ̣ng Huy chương kháng chiến Ha ̣ng Nhất. Viê ̣c sao y hồ sơ liê ̣t si thuô ̣c thẩm quyền của cơ quan lưu trữ hồ sơ là Sở
̃ Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh A.
- Theo biên bản lấy lờ i khai ngày 04/10/2023 có sự xác nhâ ̣n của UBND xã K, ông Nguyễn Văn L2 cho biết: Ông L2 là Phó Trưở ng ấp 3 (nay là ấp T), xã K, huyện A, tỉnh An Giang giai đoa ̣n từ năm 1993 – 1996 và 1997 – 2004 nên ông L2 biết rõ hô ̣ gia đinh của bà Huỳnh Thị H2. Bà Lê Thị L và bà Huỳnh
̀ Thị H2 trướ c đây chung sống ta ̣i nhà tinh nghia ta ̣̃
i ấp C (nay là ấp T), xã K,
̀
huyện A, tỉnh An Giang, nhà tinh nghia do đi ̣̃
a phương xây tă ̣ng trên phần đất
̀ của ông Trần Văn X1 (ông hai T) cho bà H2 và bà L do cha bà L là liê ̣t si Lễ Văn L1 . Bà L lâ ̣p gia đinh vớ i ông Trần Văn D, ôn D là ngườ i đi ̣a phương. Cả
̀ bà L và ông D có đăng ký thườ ng trú ta ̣i đi ̣a phương, chủ hô ̣ là cha ruô ̣t ông D (ông Trần Văn M). Sau khi có gia đinh, bà L, ông D cùng các con tiếp tu ̣c chung
̀
sống cùng bà H2. Đối vớ i ông Nguyễn Văn X (S2), ông X không phải ngườ i đi ̣a phương và cũng không sinh sống ta ̣i đi ̣a phương, ông X chỉ thinh thoả
̉ng đến thăm bà H2. Đối vớ i bà Lê Thị N, bà N không chung sống cùng bà H2, bà L, bà N cũng không phải ngườ i đi ̣a phương, không đăng ký thườ ng trú, ta ̣m trú ta ̣i đi ̣a phương. Như vâ ̣y, xác đi ̣nh hô ̣ gia đinh bà H2 bao gồm 05 nhân khẩu là bà
̀
Huỳnh Thị H2, ông Trần Văn D, bà Lê Thị L và 02 con của bà L, ông D. Đó cũng là cơ sở để Ban ấp lâ ̣p hồ sơ xin cấp nền nhà cho đối tượng chinh sách vớ i
́ đa ̣i diê ̣n chủ hô ̣ là bà Huỳnh Thị H2. Ông L2 yêu cầu được vắng mă ̣t khi Tòa án đưa vu ̣ án ra xét xử .
- Theo biên bản xác minh ngày 04/10/2023 có sự xác nhâ ̣n của UBND xã K, ông Nguyễn Văn T3 - cán bô ̣ hưu tri, trướ c đây là công chứ c phu ̣ trách ngườ i
́
có công của Ủy ban nhân dân xã K, huyện A cho biết: Ông T3 là thành viên trong Hô ̣i đồng xét duyê ̣t nền nhà cho các hô ̣ đăng ký vào Cu ̣m tuyến dân cư xã K trong năm 2004, trong đó có hô ̣ của bà Huỳnh Thị H2. Thờ i điểm xét duyê ̣t, hô ̣ bà Huỳnh Thị H2 cư trú ta ̣i ấp C (nay là ấp T), xã K, huyện A, tỉnh An Giang. Hô ̣ bà Huỳnh Thị H2 được xét duyê ̣t theo đối tượng hô ̣ chinh sách vớ i số
́ nhân khẩu là 05 ngườ i gồm: Bà Huỳnh Thị H2, bà Lê Thị L, ông Trần Văn D, ông Trần Văn T, ông Trần Văn S1. Cả 05 ngườ i sống trong nhà tinh nghia đượ̃
c
̀ xây cất cho thân nhân của liê ̣t si Lê Văn L1. Bã
̀ H2 thờ i điểm này bà H2 chỉ đa ̣i điê ̣n cho hô ̣ được cấp nền nhà do là vợ của liê ̣t si, bã ̀ H2 không được xem là đối tượng chinh sách. Đến năm 2012 thi bà H2 mớ i được xét duyê ̣t và công nhâ ̣n là
́
̀
đối tượng chinh sách do được tă ̣ng thưở ng Huân chương kháng chiến Ha ̣ng
́ Nhất. Ông T3 yêu cầu được vắng mă ̣t khi Tòa án đưa vu ̣ án ra xét xử .
- Theo biên bản lấy lờ i khai của ngườ i làm chứ ng ngày 17/10/2023, ông Lê Văn K cho biết: Ông K là ngườ i đi ̣a phương, sinh sống ta ̣i ấp C (nay là ấp T), xã K, huyện A, tỉnh An Giang từ năm 1983 cho đến nay. Ông K được UBND xã K, huyện A tuyển du ̣ng làm Trưở ng ban ấp 3 (nay là ấp T) từ năm 2002 đến năm 2005 (theo Quyết đi ̣nh tuyển du ̣ng cán bô ̣ số 58/QĐ.UB ngày 26 tháng 11 năm 2002). Ông K sống gần nhà bà Lê Thị L, ông Trần Văn D nên ông K biết rõ hoàn cảnh gia đinh của bà L. Ông K trinh bày lờ i khai thống nhất vớ i bà L, ông
̀
̀
D, ông Nguyễn Văn L2, ông Nguyễn Văn T3. Ngoài ra, ông K còn cho biết, khoảng năm 2004, đi ̣a phương xem xét cấp nền nhà cho đối tượng hô ̣ chinh sách
́ cho bà Lê Thị L do là con của liê ̣t si, hô ̣̃
gia đinh của bà L ta ̣i thờ i điểm này gồm
̀
05 ngườ i: Bà Huỳnh Thị H2, bà Lê Thị L, ông Trần Văn D, ông Trần Văn T, ông Trần Văn S1. Do bà H2 là ngườ i lớ n nhất trong nhà nên đứ ng tên chủ hô ̣ được cấp nền. Sau khi được cấp nền, chinh ông K là ngườ i cất nhà ta ̣m cho bà L
́
ta ̣i nền nhà được cấp trên cu ̣m dân cư xã K. Ông Nguyễn Văn X thờ i điểm này vẫn chưa sinh sống cùng bà H2, bà L và cũng không sinh sống ta ̣i ấp C (nay là ấp T), xã K, huyện A. Ông K yêu cầu được vắng mă ̣t khi Tòa án đưa vu ̣ án ra xét xử .
- Theo biên bản lấy lờ i khai ngườ i làm chứ ng ngày 17/10/2023, ông Nguyễn Văn C2 cho biết: Ông C2 là ngườ i đi ̣a phương, sinh sống ta ̣i ấp C (nay là ấp T), xã K, huyện A, tỉnh An Giang từ năm 1980 cho đến nay. Ông C2 biết rõ hoàn cảnh gia đinh bà L. Ông Trần Văn D (tên thườ ng go ̣i là L3) là ngườ i đi ̣a
̀ phương và là chồng của bà L. Sau khi lâ ̣p gia đinh vớ i ông D thi bà L về chung
̀
̀ sống cùng ông D. Sau đó, bà L và ông D rướ c bà Huỳnh Thị H2 về sống chung. Sau khi rướ c bà H2 về chung sống, Nhà nướ c cất căn nhà tinh nghia cho giã
̀ đinh bà L trên đất của ông Hai Thợ H3. Bà Lê Thị L, ông Trần Văn D và hai con ̀ là ông Trần Văn T, ông Trần Văn S1 sinh sống cùng bà Huỳnh Thị H2 cho đến năm 2005 thi bà H2 chuyển về nền nhà được Nhà nướ c cấp. Ông C2 không biết
̀ ông Nguyễn Văn X và bà Lê Thị N, xác đi ̣nh ông X, bà N không chung sống cùng bà H2, gia đinh bà L từ năm 2004 trở về trướ c. Ông C2 yêu cầu được vắng
̀ mă ̣t khi Tòa án đưa vu ̣ án ra xét xử .
- Theo Công văn số 03/CAH-QLHC ngày 02 tháng 10 năm 2023, Công an huyện A cho biết: Thờ i điểm từ năm 2004 trở về trướ c không thể hiê ̣n thông tin hồ sơ hô ̣ khẩu của bà Huỳnh Thị H2 không đăng ký hô ̣ khẩu thườ ng trú ta ̣i xã K. Tuy nhiên, ta ̣i hồ sơ hô ̣ khẩu số 2166 (K) được lâ ̣p ngày 15/8/2005 gồm 02 nhân khẩu: Bà Huỳnh Thị H2, sinh năm 1943 (chủ hô ̣); ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1967. Đến năm 2006, hô ̣ bà H2 tăng 01 nhân khẩu: Cháu Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 2004. Đến năm 2007, hô ̣ bà H2 tăng 01 nhân khẩu: Con dâu Trình Thị P, sinh năm 1976. Đến năm 2015, hô ̣ bà H2 tăng 01 nhân khẩu: Cháu Nguyễn Văn T1, sinh năm 2011.
- Theo Công văn số 04/CAH-QLHC ngày 24 tháng 10 năm 2023, Công an huyện A cho biết: Qua kết quả tra cứ u tàng thư Hô ̣ khẩu Công an huyện A, mẫu NK1 và HK02, túi hồ sơ số 2055 (K) do ông Trần Văn D, sinh năm 1973 (chủ hô ̣). Ngu ̣ ấp C, xã K, huyện A, tỉnh An Giang thể hiê ̣n như sau:
+ Chủ hô ̣: Trần Văn D, sinh năm 1973;
+ Ho ̣ tên vợ: Lê Thị L, sinh năm 1971;
+ Ho ̣ tên con: Trần Văn S1, sinh năm 1992;
+ Ho ̣ tên con: Trần Văn T, sinh năm 1995;
- Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về tố tu ̣ng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn ông Nguyễn Văn X cũng thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị N chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận mô ̣t phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L, buộc ông Nguyễn Văn X (S2), bà Trình Thị P cùng các con là cháu Nguyễn Văn T1, cháu Nguyễn Thị Ngọc H di dờ i tài sản trên đất, trả la ̣i cho bà L nền nhà số B, lô 8 thuô ̣c thử a đất số 132, tờ bản đồ số 14, diê ̣n tich 108 m2. Đinh chỉ mô ̣t phần yêu cầu khở i kiê ̣n đối vớ i yêu cầu hủy Quyết ́
̀ đi ̣nh số 668/QĐ-UBND ngày 13 tháng 8 năm 2004 của Ủy ban nhân dân huyện A. Về chi phí tố tụng, ông X và bà P phải chịu chi phí tố tụng. Về án phí sơ thẩm, bà L thuô ̣c đối tượng được miễn án phi nên không phải chi ̣u án phi dân sự
́
́ sơ thẩm, ông X và bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quyền khở i kiê ̣n và tư cách tham gia tố tu ̣ng: Bà Lê Thị L khởi kiện ông Nguyễn Văn X (S2) trả la ̣i nền nhà được cấp cho đối tượng hô ̣ chinh
́ sách có khó khăn về nhà ở , thờ i điểm cấp nền đối tượng chinh sách là cha ruô ̣t
́ bà L là liê ̣t si Lê Văn L1, hô ̣ gia đinh được cấp nền có 05 nhân khẩu là bà Huỳnh
̃
̀
Thị H2, bà Lê Thị L, ông Trần Văn D, ông Trần Văn T, ông Trần Văn S1. Ông Trần Văn D, ông Trần Văn T, ông Trần Văn S1 thống nhất bà L được toàn quyền sử du ̣ng đối vớ i nền nhà do là con duy nhất của đối tượng chinh sách
́ được xét duyê ̣t cấp nền. Căn cứ Điều 74, Điều 186 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự, xác định bà Lê Thị L là nguyên đơn, ông Nguyễn Văn X (S2) là bi ̣ đơn. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng là ông Trần Văn D, ông Trần Văn T, ông Trần Văn S1, bà Trình Thị P, cháu Nguyễn Thị Ngọc H, cháu Nguyễn Văn T2, bà Lê Thị N, ông Nguyễn Văn C, Ủy ban nhân dân huyện A.
Về quan hê ̣ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Theo nội dung đơn khởi kiện, xác đi ̣nh quan hê ̣ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Nguyễn Văn X (S2) cùng cư trú tại địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang nên căn cứ các điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Về viê ̣c vắng mă ̣t của đương sự ta ̣i phiên tòa: Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N vắng mă ̣t không rõ lý do, ông Nguyễn Văn C và đa ̣i diê ̣n UBND huyện A có đơn yêu cầu xét xử vắng mă ̣t. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
Về thời hiệu khởi kiện vụ án: Theo quy định tại khoản 3 Điều 155 Bộ luật dân sự năm 2015, tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Bà Lê Thị L có đơn yêu cầu Trợ giúp pháp lý do là con của liê ̣t si Lễ Văn L1. Ngày 14/3/2023, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A có Công văn phúc đáp số 18/TGPL-HCTH cho biết bà Lê Thị L không đủ điều kiê ̣n để được Trợ giúp pháp lý theo quy đi ̣nh ta ̣i điểm 7 Điều 33 Thông tư 08/2017/TT-BTP ngày 15/11/2017 do không có sổ hô ̣ câ ̣n nghèo hoă ̣c Quyết đi ̣nh hưở ng trợ cấp xa hô ̣̃ i hàng tháng.
Trong suốt quá trinh tố tu ̣ng, bà Lê Thị L xác đi ̣nh ông X và bà P
̀ chung sống có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc H và cháu Nguyễn Văn T2. Tuy nhiên, theo Sổ hô ̣ khẩu gia đinh số 010099415, hồ sơ hô ̣ khẩu số 2166,
̀
ngày 26/8/2009 của Công an xã K và Công văn số 03/CAH-QLHC ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Công an huyện A xác đi ̣nh nhân khẩu trong gia đinh hô ̣
̀ bà Huỳnh Thị H2 gồm ông Nguyễn Văn X, bà Trình Thị P, cháu Nguyễn Thị Ngọc H và cháu Nguyễn Văn T1. Do đó, Hô ̣i đồng xét xử xác đi ̣nh la ̣i ho ̣ tên của cháu Nguyễn Văn T2 là cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 29/6/2011.
Về nội dung vụ án:
Bà Lê Thị L là con của ông Lê Văn L1 (liệt sỹ) và bà Huỳnh Thị H2 (chết năm 2019). Năm 2003, gia đình có đăng ký mua trả chậm nền nhà và khung nhà tiền chế tuyến dân cư xã K, huyện A và được UBND huyện A phê duyê ̣t nền nhà số B, lô H, ngang 06 m, dài 18 m với tổng diện tích là 108 m2 tọa lạc tại cụm dân cư xã K thuộc ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang theo Quyết định 668. Do đó, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn X (S2), bà Trình Thị P, cháu Nguyễn Thị Ngọc H, cháu Nguyễn Văn T2 phải di dời trả lại nhà và đất có diện tích 108 m2 để bà L trở về sinh sống, thờ cúng cha mẹ, giữ gìn nhà và đất được nhà nước cấp do là con của liệt sĩ. Ông X không đồng ý vì cho rằng căn nhà này do ông X thừa hưởng từ bà H2 để lại.
Theo bản vẽ hiện trạng khu đất ngày 03/10/2022 của Văn phòng Đ – Chi nhánh A thì phần đất tranh chấp do phía bà L chỉ dẫn thuộc thửa số 132, tờ bản đồ số 14 thuộc khu dân cư X xã K có diện tích 108,0 m2 tại các điểm 4, 8 ,19, 14.
Quyết đi ̣nh số 668/QĐ.UB ngày 13/8/2004 về việc phê duyệt danh sách xét duyệt phân phối nền nhà C1 dân cư xã K của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện A thể hiê ̣n nền nhà được cấp cho hô ̣ bà Huỳnh Thị H2 có số nhân khẩu là 05 ngườ i, đối tượng phê duyê ̣t là gia đinh chinh sách. Qua xác minh, ta ̣i thờ i
̀
́ điểm phê duyê ̣t nền nhà thi bà H2 sinh sống cùng bà L, chồng bà L là ông Trần
̀ Văn D và các con bà L là ông Trần Văn T, ông Trần Văn S1, tổng cô ̣ng là 05 ngườ i. Ngoài ra, bà Huỳnh Thị H2 được Chủ ti ̣ch nướ c tă ̣ng Huy chương kháng chiến ha ̣ng Nhất vào ngày 06/11/2012 cho nên ta ̣i thờ i điểm phê duyê ̣t nền nhà, bà Huỳnh Thị H2 vẫn chưa được xem là đối tượng chinh sách. Do đó, viê ̣c phê
́ duyê ̣t nền nhà cho hô ̣ bà Huỳnh Thị H2 theo đối tượng chinh sách ta ̣i thờ i điểm
́ đó là do chồng bà H2 là liê ̣t si tên Lê Văn L1, bã
̀ H2 và ông L1 chung sống chi ̉ có 01 con chung là bà Lê Thị L. Vi vâ ̣y, có thể xác đi ̣nh, Quyết đi ̣nh 668 phê
̀
duyê ̣t nền nhà cho hô ̣ bà Huỳnh Thị H2 bao gồm bà Huỳnh Thị H2, bà Lê Thị L, ông Trần Văn D, ông Trần Văn T và ông Trần Văn S1.
Ông Nguyễn Văn X cho rằng nền nhà mà ông đang sinh sống thuô ̣c nền số 91, lô 08 được cấp theo đối tượng hô ̣ nghèo. Tuy nhiên, ông X không cung cấp được tài liê ̣u, chứ ng cứ cho lờ i trinh bày của minh. Ngoài ra, theo bản
̀
̀ vẽ hiện trạng khu đất ngày 03/10/2022 của Văn phòng Đ – Chi nhánh A thì phần đất tranh chấp do phía bà L chỉ dẫn và hiê ̣n ông X đang sinh sống thuộc thửa số 132, tờ bản đồ số 14 thuộc khu dân cư T xã K có diện tích 108,0 m2 tại các điểm 4, 8 ,19, 14. Theo Công văn số 870/UBND-NC ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Ủy ban nhân dân huyện A và Công văn số 17/TTPTQĐ-DC ngày 30 tháng 3 năm 2022 của Trung tâm phát triển quy đẫ ́t huyện A cùng xác đi ̣nh nền nhà số B, lô 8 thuô ̣c thử a đất số 132, tờ bản đồ số 14, diê ̣n tich 108 m2 nằm trên mă ̣t
́ bằng quy hoa ̣ch phân lô cu ̣m dân cư trung tâm xã K đa đượ̃
c Sở Xây dựng tỉnh A phê duyê ̣t ngày 16 tháng 3 năm 2017. Như vâ ̣y, lờ i trinh bày của ông X là
̀ không phù hợp vớ i hiê ̣n tra ̣ng đất tranh chấp và không có căn cứ để xem xét.
Ông Nguyễn Văn X thừ a nhâ ̣n từ thờ i điểm năm 2004 trở về trướ c, ông X không sinh sống ta ̣i ấp C (nay là ấp T), xã K mà sinh sống ta ̣i Cần Thơ. Ông trở về sinh sống ta ̣i ấp C (nay là ấp T), xã K sau khi ly hôn vợ. Sau khi về sống ta ̣i ấp A, xã K thi đăng ký hô ̣ khẩu thườ ng trú vớ i chủ hô ̣ là bà Huỳnh Thị
̀ H2 từ năm 2009. Điều này cũng phù hợp vớ i Công văn số 03/CAH-QLHC ngày 02/10/2023 của Công an huyện A, ngoài ra, cũng theo nô ̣i dung Công văn thi từ
̀ năm 2004 trở về trướ c không thể hiê ̣n thông tin hồ sơ hô ̣ khẩu bà Huỳnh Thị Hoa đăng k hô ̣ khẩu thườ ng trú ta ̣i xã K. Như vâ ̣y, ông Nguyễn Văn X, bà Trình Thị P và 02 con của ông X không phải là những ngườ i có trong nhân khẩu ta ̣i thờ i điểm cấp nền.
Bên ca ̣nh đó, ông X đồng ý giao nền đất này la ̣i cho bà L nếu bà L chứ ng minh được là con của liê ̣t si Lê Văn L1. Theo biên bã
̉n xác minh ta ̣i Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện A và các Quyết đi ̣nh của Sở Lao động - -Thương binh và Xã hội tỉnh A đều chứ ng thực bà Lê Thị L là con duy nhất thờ cúng liê ̣t si Lê Văn L1.̃
Ông Trần Văn D, ông Trần Văn T, ông Trần Văn S1 xác đi ̣nh là những ngườ i trong hô ̣ gia đinh ta ̣i thờ i điểm cấp nền nhà, các ông không yêu cầu
̀ được nhâ ̣n nền nhà mà giao la ̣i nền nhà này cho bà Lê Thị L được toàn quyền sử du ̣ng. Do đó, Hô ̣i đồng xét xử ghi nhâ ̣n sự tự nguyê ̣n của ông D, ông T, ông S1.
Theo bản ve hiện trạng khu đất ngày 03/10/2022 của Văn phòng Đ –̃ Chi nhánh A thể hiê ̣n các điểm 15, 16, 17, 18 là các góc nhà vê ̣ sinh xây bê tông có diê ̣n tich 2,20 m2. Cũng theo biên bản đi ̣nh giá tài sản ngày 26/8/2022 của
́ Hô ̣i đồng đi ̣nh giá tài sản huyện A thi nhà vê ̣ sinh có kết cấu tườ ng ga ̣ch xây,
̀
mái tole, đáy đan bê tông cốt thép có giá: 12.558.000 đồng. Theo trinh bày của
̀ ông X thi nhà vê ̣ sinh được xây kiên cố, không thể di dờ i mà chỉ có thể đâ ̣p bỏ.
̀ Bà L thống nhất vớ i ý kiến của ông X và tự nguyê ̣n quản lý nhà vê ̣ sinh này, đồng thờ i hoàn la ̣i giá tri ̣ cho ông X. Để tránh gây khó khăn cho viê ̣c thi hành án, Hô ̣i đồng xét xử ghi nhâ ̣n sự tự nguyê ̣n của bà L, giao nhà vê ̣ sinh cho bà L quản lý và bà L có trách nhiê ̣m hoàn la ̣i cho ông X, bà P số tiền 12.558.000 (mườ i hai triê ̣u năm trăm năm mươi tám nghin) đồng.
̀
Từ những phân tich nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi
́ kiện của bà Lê Thị L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 164, Điều 166 của Bộ luật Dân sự và Điều 100, Điều 166, Điều 203 của Luật Đất đai. Hội đồng xét xử cũng thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân huyện An Phú, chấp nhận mô ̣t phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L về việc buộc ông Nguyễn Văn X (S2), bà Trình Thị P cùng các con là cháu Nguyễn Văn T1, cháu Nguyễn Thị Ngọc H di dờ i tài sản trên đất, trả la ̣i cho bà L nền nhà số B, lô 8 thuô ̣c thử a đất số 132, tờ bản đồ số 14, diê ̣n tich 108,0 m2 thuộc khu dân
́ cư X xã K, thể hiê ̣n tại các điểm 4, 8 ,19, 14 theo Bản ve hiê ̣̃
n tra ̣ng khu đất ngày 03/10/2022 của Văn phòng Đ - Chi nhánh A.
Ta ̣i phiên tòa, bà Lê Thị L tự nguyê ̣n hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn X, bà Trình Thị P với số tiền 30.000.000 (ba mươi triê ̣u) đồng để ổn đi ̣nh cuô ̣c sống. Xét thấy viê ̣c tự nguyê ̣n hỗ trợ của bà L là có lợi cho bi ̣ đơn nên Hô ̣i đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.
Đinh chi mô ̣̉
t phần yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Lê Thị L đối vớ i yêu cầu
̀ hủy Quyết đi ̣nh số 668/QĐ-UBND ngày 13 tháng 8 năm 2004 của Ủy ban nhân dân huyện A theo quy đi ̣nh ta ̣i điểm c khoản 1 Điều 217 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự năm 2015.
Theo Công văn của Trung tâm phát triển quy đẫ ́t huyện A, thi đến thờ i
̀ điểm hiê ̣n nay, chi phi mua nền nhà số B, lô H thuô ̣c thử a đất số 132, tờ bản đồ
́ số 14, diê ̣n tich 108 m2 thuộc khu dân cư Trung tâm xã K vẫn chưa có ai giao
́ nô ̣p. Do đó, bà Lê Thị L có nghia vu ̣̃
nô ̣p chi phi mua nền nhà sau khi bản án có
́ hiê ̣u lực pháp luâ ̣t theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 7 Điều 210 Luâ ̣t Đất đai năm 2013.
Về chi phi tố tu ̣ng:
́
Do yêu cầu được chấp nhâ ̣n nên bà Lê Thị L không phải chịu chi phi tố
́ tu ̣ng. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án bà L đã tạm ứng chi phí tố tụng là 1.000.000 (một triệu) đồng (theo Biên bản quyết toán ngày 02/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Phú) và chi phí đo đạc là 835.920 (tám trăm ba mươi lăm nghin chin trăm hai mươi) đồng (theo Biên bản thanh lý hợp đồng ngày
̀
́ 14/10/2022 của Văn phòng Đ - Chi nhánh A), tổng cộng 1.835.920 (một triệu tám trăm ba mươi lăm nghin chin trăm hai mươi) đồng. Ông Nguyễn Văn X và
̀
́ bà Trình Thị P có trách nhiệm hoàn trả cho bà Lê Thị L số tiền này theo quy định tại Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lê Thị L được miễn tạm ứng án phí, án phí Tòa án do là con liê ̣t si và̃ có đơn yêu cầu miễn tạm ứng án phí, án phí Tòa án theo quy đi ̣nh ta ̣i điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Ông Nguyễn Văn X, bà Trình Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Về quyền kháng cáo:
Bà Lê Thị L, ông Nguyễn Văn X, bà Trình Thị P, bà Lê Thị N, ông Nguyễn Văn C, đa ̣i diê ̣n Ủy ban nhân dân huyện A có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 164, Điều 166 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 100, Điều 166, Điều 168, Điều 188, Điều 203, khoản 7 Điều 210 Luật Đất đai;
Căn cứ khoản 2 Điều 27, khoản 3 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ các điều 26, 35, 39, 70, 73, 147, 157, 158, 165, 166, 217, 227, 228, 244, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận mô ̣t phân yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L.
1.1. Buô ̣c ông Nguyễn Văn X, bà Trình Thị P tự tháo dỡ, di dời toàn bộ căn nhà cùng tài sản trên đất, bao gồm: Các góc nhà gỗ + chuồng gà bằng gỗ thể hiê ̣n ta ̣i các điểm 5, 6, 10, 11, 12, 13 có diê ̣n tich 52,9 m2, hàng tru ̣ sắt (chưa đổ
́
bê tông) thể hiê ̣n từ đoa ̣n 7 đến 9 và trả lại cho bà Lê Thị L phần đất thuộc thửa 132, tờ bản đồ số 14 có diê ̣n tich 108,0 m2 thuô ̣c khu dân cư xã K thể hiê ̣n ta ̣i
́ các điểm 4, 8, 19, 14, phần đất tọa lạc tại: Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang theo Bản vẽ hiện trạng khu đất ngày 03/10/2022 của Văn phòng Đ – Chi nhánh A.
Cháu Nguyễn Thị Ngọc H và cháu Nguyễn Văn T1 có trách nhiệm di dời theo.
Cho thời hạn lưu cư của ông Nguyễn Văn X, bà Trình Thị P, cháu Nguyễn Thị Ngọc H và cháu Nguyễn Văn T1 là 06 (sáu) tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Giao cho bà Lê Thị L quản lý nhà vê ̣ sinh có diê ̣n tich 2,20 m2 thể hiê ̣n ta ̣i
́ các điểm 15, 16, 17, 18 theo Bản vẽ hiện trạng khu đất ngày 03/10/2022 của Văn phòng Đ – Chi nhánh A. Bà Lê Thị L có trách nhiê ̣m hoàn la ̣i cho ông Nguyễn Văn X, bà Trình Thị P số tiền 12.558.000 (mườ i hai triê ̣u năm trăm năm mươi tám nghin) đồng.
̀
(Có bản ve kẽ ̀m theo)
Bà Lê Thị L có quyền liên hê ̣ vớ i cơ quan có thẩm quyền để được điều chinh vả
̀ cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
1.2. Công nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị L về việc hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn X và bà Trình Thị P số tiền 30.000.000(ba mươi triê ̣u) đồng. Thờ i gian thực hiê ̣n sau khi bản án có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t.
2. Đinh chỉ mô ̣t phần yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Lê Thị L đối vớ i yêu cầu
̀ hủy Quyết đi ̣nh số 668/QĐ-UBND ngày 13 tháng 8 năm 2004 của Ủy ban nhân dân huyện A.
3. Về chi phí tố tụng:
Buộc ông Nguyễn Văn X, bà Trình Thị P có trách nhiệm hoàn trả cho bà Lê Thị L chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá với số tiền 1.835.920 (một triệu tám trăm ba mươi lăm nghin chin trăm hai mươi) đồng.
̀
́
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. Bà Lê Thị L được miễn tạm ứng án phí, án phí Tòa án do là con liê ̣t si ̃ và có đơn yêu cầu miễn tạm ứng án phí, án phí Tòa án.
4.2. Ông Nguyễn Văn X và bà Trình Thị P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
5. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai có mặt bà Lê Thị L, ông Nguyễn Văn X, bà Trình Thị P; vắng mă ̣t bà Lê Thị N, ông Nguyễn Văn C và đa ̣i diê ̣n Ủy ban nhân dân huyện A. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Lê Thị L, ông Nguyễn Văn X, bà Trình Thị P có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bà Lê Thị N, ông Nguyễn Văn C, UBND huyện A là 15 ngày kể từ ngày nhâ ̣n được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND tỉnh An Giang (1); - VKSND huyện An Phú (1); - THADS huyện An Phú (1); - Các đương sự (6); - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Tuân |