vanban.org

Quyết định 33/QĐ-TA

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 04/11/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê P.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao độ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê P"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê P.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 33/QĐ-TAP, ngày 04 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Thanh Hà.

2. Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Lệ Quyên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 35/QĐ-TA ngày 27 tháng 10 năm 2022 đối với:

Họ và tên: Lê P( Tên gọi khác: Bi). Sinh năm 1986.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn 1, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.

Con ông Lê Văn Th và bà Võ Thị T.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đào Thị Mai - Chuyên viên của Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai (theo văn bản ủy quyền số: 35/UQ-LĐTBXH ngày 02/11/2022).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai: Bà Lê Thị Thảo Nhi - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Lê Psinh năm 1986 có hộ khẩu thường trú Thôn 1, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai nhưng không có sinh sống tại địa chỉ trên. Lê Pbắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2010 cho đến nay, loại ma tuý Psử dụng là ma tuý đá, hình thức sử dụng ma tuý là hít. Đối tượng Pđã nhiều lần sử dụng ma tuý trên địa bàn thành phố P. Năm 2015 bị lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Năm 2019 bị Công an phường T lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 01/10/2022 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tại Nghĩa địa Thánh Tâm thuộc Làng Chuet 1, phường L, thành phố P bị Công an phường L phát hiện ( theo biên bản vi phạm hành chính do Công an phường L, thành phố P, tỉnh Gia Lai lập vào ngày 05/10/2022). Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 09/10/2022 của Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma tuý tỉnh Gia Lai và Phiếu xét nghiệm số 43/XN ngày 05-10-2022 của Trạm y tế phường L đều xác định Lê P có nghiện ma tuý, loại ma tuý Psử dụng là MET (Methamphetamin). Qua xác minh, Lê P không có nơi cư trú ổn định nên Công an phường L, thành phố P đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh Phương.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố P đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy là đối tượng Lê Pvới thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Điều 41 và Điều 43 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021.

- Đồng ý với đề nghị của đại diện Phòng Lao động -Thương binh và xã hội thành phố P về quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Lê P và đề nghị thời gian đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Lê P từ 18 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và khoản 2 Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 09/10/2022 của Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma tuý tỉnh Gia Lai và Phiếu xét nghiệm số 43/XN ngày 05-10-2022 của Trạm y tế phường L đều xác định Lê P có nghiện ma tuý, loại ma tuý P sử dụng là MET (Methamphetamin). Phiếu trả lời này là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 6 Điều 27 Luật Phòng, chống ma túy ngày 30 tháng 3 năm 2021; khoản Điều 3 Nghị định số: 109/2021/NĐ-CP ngày 08-12-2021 của Chính phủ quy định về cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma túy. Vì vậy, Tòa án có căn cứ khẳng định Lê P có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Về tài liệu xác định đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Biên bản xác minh ngày 06-10-2022 của Công an xã C, thành phố P tiến hành xác minh tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của P xác định: Lê P có đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ Thôn 1, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Qua theo dõi hiện công dân Lê P không có mặt tại nơi thường trú. Hiện địa P chưa rõ anh P đi đâu, làm gì;

Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Kể từ ngày 01-10-2022, Lê Pthực hiện hành vi sử dụng ma túy trái phép lần cuối bị phát hiện và lập biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép, đến ngày mở phiên họp ( 04/11/2022) vẫn còn trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Trưởng Công an phường L lập hồ sơ đối với đối tượng Lê P và ra Thông báo số: 35/TB – CAP ngày 05-10-2022, về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng theo quy định tại Điều 42 Nghị định số 116/2021/NĐ – CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ. Cùng ngày, Lê P được đọc hồ sơ.

Như vậy, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ – CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ.

Lê P bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2010 cho đến nay, loại ma tuý P sử dụng là ma tuý đá, hình thức sử dụng ma tuý là hít. Đối tượng P đã nhiều lần sử dụng ma tuý trên địa bàn thành phố P. Năm 2015 bị lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Năm 2019 bị Công an phường T lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Lê P có đủ nhận thức để nhận biết hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước về ma túy nhưng vẫn cố tình sử dụng. Hành vi này của Lê P không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bản thân mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội.

Quá trình giải quyết vụ việc, đối tượng đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng phát hiện vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì vậy, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê P.

Căn cứ vào các Điều 7, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và 108 Luật xử lý vi phạm hành chính và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020;

Căn cứ vào các Điều 22, 23, 24, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20-01-2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ vào các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê P.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án. Riêng đối với đối tượng Lê P có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày quyết định được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Cỡ chữ