- Tranh chấp gì? "Nguyễn Hữu Đ"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Hữu Đ, Tên gọi khác: không có; sinh năm 1990iềnHiHuyee tại tỉnh Bến Tre; Căn cước công dân: 083090017794; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không có; Trình độ văn hóa: 12/12; nơi cư tr…
- Căn cứ chính? Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN ND TP BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 33/QĐ-TA | Thành phố Bến Tre, ngày 05 tháng 5 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có: Thẩm phán: Ông Ngô Văn T Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Vương
Ngày 05 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 32/QĐ-TA ngày 24 tháng 4 năm 2025 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Hữu Đ, T1 gọi khác: không có;
Sinh năm 1990 tại tỉnh Bến Tre;
Căn cước công dân: 083090017794;
Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không có;
Trình độ văn hóa: 12/12;
Nơi cư trú: số B, khu phố A, phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre;
Con ông Nguyễn Quý H và bà Lê Thị N.
Nhân thân: Đã nêu tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào có sở cai nghiện bắt buộc số 02/QĐ-TA ngày 16/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre.
Anh Nguyễn Hữu Đ vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
- Người đề nghị: Trưởng Công an P, thành phố B – Ông Nguyễn Văn Đ1.
Đại diện theo ủy quyền của Trưởng Công an P, thành phố B: Ông Phan Minh H1- Phó Trưởng Công an P, thành phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre: Bà Trần Thị Ấm - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc, hành vi vi phạm của anh Nguyễn Hữu Đ được tóm tắt như sau:
Anh Đ là người nghiện ma túy, đã chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào có sở cai nghiện bắt buộc số 02/QĐ-TA ngày 16/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xong ngày 29/6/2024. Ngày 01/7/2024, Ủy ban nhân dân Phường G ban hành Quyết định Quản lý sau cai nghiện số 01/QĐ-UBND đối với anh Đ trong thời gian 02 năm kể từ ngày 01/7/2024.
Ngày 14/4/2025, Công an P, thành phố B, tỉnh Bến Tre tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với anh Đ thì anh Đ dương tính với ma túy. Anh Đ thừa nhận ngày 12/7/2025 anh có sử dụng ma túy nên Công an Phường 7 lập Biên bản vi phạm hành chính số 07/BB-VPHC ngày 14/4/2025. Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 15/4/2025 của Trung tâm Y tế thành phố B thì anh Đ nghiện ma túy loại Heroine nên Ủy ban nhân dân Phường G lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 07/BB-VPHC ngày 16/4/2025 và Công an P tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh Đ.
Tại phiên họp:
Người đề nghị có ý kiến: Anh Đ là người nghiện ma túy, đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện mà lại tiếp tục sử dụng ma túy nên việc cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đ với thời hạn là 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Công an tỉnh B.
Kiểm sát viên tham gia phiên họp xác định: Quá trình thụ lý hồ sơ và tại phiên họp, những người tiến hành phiên họp đã tuân thủ và thực hiện đúng các trình tự, thủ tục theo luật định. Hồ sơ đã được lập đúng theo trình tự, thủ tục theo luật định, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đ theo đề nghị của người đề nghị với thời hạn 24 tháng.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ và ý kiến của những người tham gia phiên họp,
XÉT THẤY:
Tại phiên họp, anh Đ đã được Tòa án triệu tập đúng quy định nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên căn cứ vào khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Điều 1 Nghị Quyết số 04 ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt đối với anh Đ là phù hợp.
Anh Đ là người nghiện ma túy, đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện mà lại tiếp tục sử dụng ma túy theo Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 01/7/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường G, thành phố B trong thời hạn 02 năm từ ngày 01/7/2024 nhưng lại tiếp tục sử dụng ma túy vào ngày 12/4/2025 nên Ủy ban nhân dân Phường G lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 07/BB-VPHC ngày 16/4/2025 và Công an P tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh Đ là phù hợp.
Anh Đ là người trên 18 tuổi, đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện nhưng lại tái nghiện, tiếp tục sử dụng ma túy nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 và khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Do đó, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đ đã được các cơ quan có thẩm quyền lập đúng và đầy đủ theo trình tự pháp luật quy định và đề nghị của Trưởng Công an P, tỉnh Bến Tre là có cơ sở.
Anh Đ biết rõ chất ma túy là chất độc hại, việc sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của anh Đ đã vi phạm Luật phòng chống tác hại ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó, việc bắt buộc cai nghiện đối với anh Đ là cần thiết.
Xét nhân thân và mức độ nghiện của anh Đ thấy rằng mức thời gian cai nghiện mà Trưởng Công an P, tỉnh Bến Tre, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Hữu Đ, Tên gọi khác: không có; sinh năm 1990iềnHiHuyee tại tỉnh Bến Tre; Căn cước công dân: 083090017794; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không có; Trình độ văn hóa: 12/12; nơi cư trú: số B, khu phố A, phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre; Con ông Nguyễn Quý H và bà Lê Thị N.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Anh Nguyễn Hữu Đ được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày được tống đạt Quyết định; Trưởng Công an P, thành phố B, tỉnh Bến Tre được quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre được quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an P, thành phố B, tỉnh Bến Tre và Cơ sở cai nghiện ma túy – Công an tỉnh B có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - Phòng kiểm tra nghiệp vụ TA tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - Trưởng Công an P.7, TPBT(1b); - Cơ sở CNMT Công an T.Bến Tre (1b); - Người bị áp dụng (1b); - Lưu VP, hồ sơ (2b). | THẨM PHÁN Ngô Văn Trình |