vanban.org

Quyết định 33/2024/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/01/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Tô Ngọc N về việc tuyên bố ông Tô Đức L là đã chết.

Tuyên bố: Ông Tô Đức L, sinh năm 1951, địa chỉ cư trú cuối cùng: Phường C, quận V, Thành phố H là đã chết. Thời điểm chết của ông Tô Đức L được xác định là ngày: 01/6/1990. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Tô Ngọc N về việc tuyên bố ông Tô Đức L là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Luật Thi hành án dân sự; Luật Hộ tịch
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 33/2024/QĐST-DSGò Vấp, ngày 18 tháng 01 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đặng Thị Tám

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thảo Vy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Hồ Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở của Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 294/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số 102/2023/QĐST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Tô Ngọc N, sinh năm 1980; trú tại: Phường C, quận V, Thành phố H, (có đơn xin vắng mặt).

Người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Tô Đức L, sinh năm 1951, địa chỉ cư trú cuối cùng: Phường C, quận V, Thành phố H.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu nộp ngày 27 tháng 4 năm 2023 và lời trình bày của ông Tô Ngọc N trong quá trình giải quyết việc dân sự thể hiện:

Tháng 05/1985, ông Tô Đức L đi vượt biên và đã mất tích kể từ đó đến nay, ông không liên lạc với gia đình và địa phương. Gia đình có tìm kiếm, Hội chữ thập đỏ quốc tế đã thông báo không có tên ông Tô Đức L trong các trại tị nạn. Ông Tô Ngọc N là con của ông Tô Đức L. Ông Tô Ngọc N không biết ông Tô Đức L vượt biên đi nước nào, ông không có tin tức gì và cũng không liên lạc được với ông Tô Đức L. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của ông Tô Đức L trước khi đi vượt biên là Phường C, quận V, Thành phố H. Ngoài địa chỉ này, ông Tô Ngọc N và gia đình không biết địa chỉ cư trú nào khác của ông Tô Đức L. Những người thân trong gia đình của ông Tô Đức L gồm mẹ là bà Nguyễn Thị Đ (sinh năm 1919) và cha là ông Tô Văn T (sinh năm 1898) đều đã chết, vợ cả của ông Tô Đức L là bà Nguyễn Trung T đã bỏ đi biệt tích từ năm 1976, vợ thứ 02 là bà Nguyễn Thị M (sinh năm 1960) đã kết hôn với người khác, 02 người con của ông Tô Đức L là Tô Đức D (sinh năm 1976) đã chết và Tô Ngọc N là ông nộp đơn yêu cầu.

Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhung trình bày: Bà có sống chung với ông Tô Đức L năm 1951 và có 01 con chung là ông Tô Ngọc N. Đến năm 1985, ông Tô Đức L đã bỏ đi, đến nay không có tin tức gì, ông bà không có tài sản chung. Sau đó, bà Nguyễn Thị M đã kết hôn với ông Võ Văn H năm 1993, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 123, quyền số 01 do Ủy ban nhân dân Phường C, quận V, Thành phố H cấp ngày 18/12/1993. Bà Nguyễn Thị M không có ý kiến gì khác.

Trong thời gian ông Tô Đức L bỏ đi đến nay, ông có kết hôn với ai khác hay có con riêng hoặc con nuôi hay không thì ông Tô Ngọc N không biết. Ông Tô Ngọc N và gia đình đã đi tìm kiếm ông Tô Đức L nhưng vẫn không có tin tức gì của ông.

Nay ông Tô Ngọc N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Tô Đức L đã chết để ông làm thủ tục kê khai di sản thừa kế. Ông Tô Ngọc N không yêu cầu quản lý tài sản của ông Tô Đức L vì ông Tô Đức L không có tài sản gì.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự như sau: Về tố tụng, Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; về nội dung, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Tô Ngọc N về việc tuyên bố ông Tô Đức L đã chết.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, lời trình bày và xác nhận của đương sự tại phiên họp;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân nhân quận Gò Vấp nhận định:

Về tố tụng:

- Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Tô Ngọc N yêu cầu tuyên bố ông Tô Đức L đã chết. Đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông Tô Đức L có nơi cư trú cuối cùng tại Phường C, quận V, Thành phố H. Theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc giải quyết yêu cầu về dân sự của ông Tô Ngọc N thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Tô Ngọc N có đơn xin vắng mặt và đã có bản khai tại Tòa án nên căn cứ Khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt đương sự nêu trên là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Xét ông Tô Ngọc N yêu cầu tuyên bố ông Tô Đức L là đã chết.

Căn cứ vào lời khai của người yêu cầu, các tài liệu khác liên quan có trong hồ sơ việc dân sự.

Căn cứ vào Giấy khai sinh số 134, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố H cấp ngày 29/10/1980 xác định giữa ông Tô Ngọc N và ông Tô Đức L có quan hệ huyết thống cha con. Ông Tô Ngọc N có quyền yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với ông Tô Đức L. Ông Tô Đức Duy là con của ông Tô Đức L nhưng ông Tô Đức D đã chết theo Giấy chứng tử số 48, quyển số 01/2005 do Ủy ban nhân dân Phường C, quận V, Thành phố H cấp ngày 12/6/2005. Bà Nguyễn Thị M sống chung với ông Tô Đức L và có 01 con chung là ông Tô Ngọc N. Sau khi ông Tô Đức L bỏ đi, bà Nguyễn Thị M đã kết hôn với người khác, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 123, quyền số 01 do Ủy ban nhân dân Phường C, quận V, Thành phố H cấp ngày 18/12/1993.

Căn cứ vào các kết quả xác minh của Công an Phường C, quận V, Thành phố H ngày 20/6/2023, 06/9/2023, 12/12/2023 thì ông Tô Đức L, sinh năm 1951 hiện vắng mặt tại địa phương từ năm 1985 đến nay, đã bị xóa khẩu từ tháng 9/1985, không rõ nơi đến. Cha mẹ của ông Tô Đức L là ông Tạ Văn T và bà Nguyễn Thị Đ đều đã chết, con của ông Tô Đức L là ông Tô Đức D đã chết.

Như vậy, theo kết quả xác minh Công an Phường C, quận V, Thành phố H thì về việc mất tích của ông Tô Đức L đúng như lời khai của ông Tô Ngọc N tại Tòa án.

Trong quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án đã tiến hành xác minh, ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 17/2023/QĐ-TA ngày 11 tháng 7 năm 2023 đối với ông Tô Đức L. Sau đó, ông Tô Ngọc N đã liên hệ đăng, phát thông báo tìm kiếm ông Tô Đức L trên báo Lao động vào các ngày 25, 26, 27 tháng 7 năm 2023 và Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 27, 28, 29 tháng 7 năm 2023, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để nhắn tìm ông Tô Đức L. Đến nay, thời hạn thông báo tìm kiếm ông Tô Đức L đã hết theo khoản 2 Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Tô Đức L không trở về địa phương, ông Tô Ngọc N vẫn không có tin tức xác thực về việc ông Tô Đức L còn sống hay đã chết. Theo kết quả xác minh và lời khai của người yêu cầu thì thực tế ông Tô Đức L đã đi biệt tích từ tháng 05/1985 đến nay là gần 40 năm mà không có tin tức xác thực là còn sống.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:

“1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau đây:

d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này”.

Căn cứ vào các quy định nêu trên, Tòa án xác định ngày chết của ông Tô Đức L là ngày 01/6/1990.

Từ các căn cứ nêu trên, đối chiếu với quy định của pháp luật được viện dẫn, Tòa án có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Tô Ngọc N về việc tuyên bố ông Tô Đức L là đã chết.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh có căn cứ và phù hợp với nhận định của Toà án.

- Về lệ phí: Lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, ông Tô Ngọc N phải chịu.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 21, khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, khoản 2 Điều 388, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 68, Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Luật Hộ tịch;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Luật phí, lệ phí;

Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Tô Ngọc N về việc tuyên bố ông Tô Đức L là đã chết.

Tuyên bố: Ông Tô Đức L, sinh năm 1951, địa chỉ cư trú cuối cùng: Phường C, quận V, Thành phố H là đã chết.

Thời điểm chết của ông Tô Đức L được xác định là ngày: 01/6/1990.

Quan hệ nhân thân về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác của ông Tô Đức L được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Về lệ phí:

Lệ phí yêu cầu việc dân sự là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, ông Tô Ngọc N phải nộp, được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng ông Tô Ngọc N đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2023/0011660 ngày 26 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận V, Thành phố H. Ông Tô Ngọc N đã nộp đủ lệ phí việc dân sự.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ