- Tranh chấp gì? "Đoàn Phước T -Đưa vào cơ sờ cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Phước T, sinh ngày 01/01/1975.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 33/2024/QĐ-TA | Tân An, ngày 30 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Toàn V
2. Thư ký phiên họp: Ông Lê Văn Hà
Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 25/2024/QĐ-TA ngày 23 tháng 12 năm 204 đối với:
Đoàn Phước T, tên gọi khác: không có;
Sinh ngày 01/01/1975;
Căn cước công dân số: 080075014567; Ngày cấp: 23/6/2023; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C.
Dân tộc: Kinh;
Quốc tịch: Việt Nam;
Tôn giáo: Cao Đài;
Trình độ học vấn: 03/12;
Địa chỉ thường trú: 130/2/38 Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Chỗ ở hiện nay: ấp X, xã L, thành phố T, tỉnh Long An.
Nghề nghiệp: không.
Tiền án: không; tiền sự: 03, ngày 04/4/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, thành phố T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 468/QĐ-XPHC (đã nộp phạt ngày 03/5/2024); ngày 27/6/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, thành phố T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 887/QĐ-UBND (chưa nộp phạt); bị áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 888/QĐ-UBND ngày 27/6/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L với thời hạn 01 năm từ ngày 28/6/2024 đến ngày 28/6/2025.
Con ông: Đoàn Văn Đ và bà: Lê Thị H,
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hồ Duy T1 - Chức vụ: Trưởng phòng Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố Tân An, tỉnh Long An
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An: Bà Lý Kiều Phương - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Đoàn Phước T đang cư trú tại xã L, thành phố T, tỉnh Long An không có nghề nghiệp ổn định, sử dụng ma túy lần đầu vào năm 2015. Tuy sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần và đã bị xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể: ngày 04/4/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, thành phố T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 468/QĐ-XPHC (đã nộp phạt ngày 03/5/2024); ngày 27/6/2024 tiếp tục bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, thành phố T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 887/QĐ-UBND (chưa nộp phạt). Cùng ngày, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L có Quyết định số 889/QĐ-UBND về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đồng thời quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 888/QĐ-UBND ngày 27/6/2024 với thời hạn 01 năm từ ngày 28/6/2024 đến ngày 28/6/2025.
Ngày 26/11/2024, T bị Công an xã L, thành phố T lập Biên bản vi phạm hành chính do đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà riêng thuộc ấp X, xã L, thành phố T, tỉnh Long An vào ngày 25/11/2024; qua xét nghiệm nhanh, kết quả Tuy dương tính với ma túy. Tại biên bản làm việc ghi lời khai ngày 26/11/2024 và bản tường trình tự khai của Tuy cùng ngày thể hiện T đã thừa nhận hành vi vi phạm của mình.
Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy số 279/PKQ-BVTT-KHTH ngày 02/12/2024 của Bệnh viện tâm thần thuộc Sở Y tế tỉnh L đã kết luận Tuy có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là A (ATS).
Ngày 03/12/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L ban hành Quyết định số 1727/QĐ-UBND ngày 03/12/2024 về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 04/12/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, thành phố T có văn bản số 1728/ĐN-CNBB về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
Ngày 11/12/2024, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T có văn bản số 3199/ĐN-CNBB về việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Tuy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Long An với thời hạn từ 12 đến 18 tháng.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T vẫn giữ nguyên ý kiến theo Văn bản số 3199/ĐN-CNBB ngày 11/12/2024.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Tân An phát biểu ý kiến:
Từ khi thụ lý cho đến thời điểm mở phiên họp, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại của Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tuy được thực hiện đúng quy định tại các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Tân An xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tuy với thời hạn 18 tháng là cần thiết và phù hợp quy định theo Khoản 2 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 nên đề nghị Tòa án chấp nhận để giúp Tuy cai nghiện tốt, trở thành người khỏe mạnh, có ích cho gia đình và cộng đồng.
XÉT THẤY:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Đoàn Phước T, ý kiến đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, đã có đủ cơ sở để xác định:
Về thẩm quyền của Tòa án: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T có văn bản số 3199/ĐN-CNBB ngày 11/12/2024 về việc đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Tân An xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T. Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tòa án nhân dân thành phố Tân An có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Phước T đảm bảo về thời hiệu và trình tự thủ tục theo quy định tại các điều: 6, 103 và 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, Khoản 57 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020 và Điều 13 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, việc chuyển hồ sơ đến Tòa án còn trễ hạn theo quy định tại Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính, cần rút kinh nghiệm.
Về đánh giá tính chất, mức độ hành vi vi phạm:
Đoàn Phước T đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị xử phạm vi phạm hành chính hai lần theo Quyết định số 468/QĐ-XPHC ngày 04/4/2024 (đã nộp phạt ngày 03/5/2024); ngày 27/6/2024 tiếp tục bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, thành phố T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 887/QĐ-UBND (chưa nộp phạt). Cùng ngày, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L có quyết định số 889/QĐ-UBND về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại Quyết định số 888/QĐ-UBND ngày 27/6/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L đã quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo với thời hạn 01 năm từ ngày 28/6/2024 đến ngày 28/6/2025. Tuy nhiên, vào ngày 25/11/2024, T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã cơ quan công an bị lập biên bản vi phạm hành chính chứng tỏ Tuy không thể tự sửa chữa, không nhìn nhận hành vi vi phạm pháp luật của mình mà còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian cai nghiện tại gia đình, cộng đồng; điều này đã thể hiện sự xem thường pháp luật của Tuy. Bệnh viện tâm thần thuộc Sở Y tế tỉnh L đã có kết luận Tuy có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là A (ATS) theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy số 279/PKQ-BVTT-KHTH ngày 02/12/2024. Như vậy, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Tuy đã vi phạm khoản 2 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy và khoản 1, khoản 16 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Tuy không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bản thân, ảnh hưởng đến gia đình, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác thậm chí phát sinh tội phạm mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự công cộng, an toàn xã hội và gây hoang mang cho nhân dân tại địa phương. Do đó, cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tuy theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T nhằm giáo dục, giúp đỡ Tuy sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh về thể chất lẫn tinh thần để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Đoàn Phước T đã bị xử phạt vi phạm hành chính vào tháng 4/2024, tháng 6/2024, được áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng vào ngày 28/6/2024 nhưng lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn này nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết giảm nhẹ: không có.
Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời gian nghiện, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của Đoàn Phước T, để tạo điều kiện cho Tuy cai nghiện tốt, lao động trở thành người khỏe mạnh, có ích cho gia đình và xã hội nên cần chấp nhận đề nghị của Phòng L và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Phước T theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào các Điều 3, 23, 24, 25, 31, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Áp dụng các Điều 6, 7, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105 và Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Phước T, sinh ngày 01/01/1975.
2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, thời hạn chấp hành được tính từ ngày Đoàn Phước T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở Cai nghiện ma túy Long An (địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An)
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:
Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, tỉnh Long An có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; trường hợp người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định của Tòa án hoặc quyết định được tống đạt theo quy định của pháp luật.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố T, tỉnh Long An chủ trì phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, tỉnh Long An có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định này./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND tp.Tân An; - Công an tp.Tân An; - Phòng LĐTB&XH tp.Tân An; - Cơ sở cai nghiện ma túy Long An; - UBND&Công an xã L, tp.Tân An (02b); (cơ quan lập hồ sơ đề nghị); - Người bị áp dụng; - Lưu: hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Toàn Vẹn |