vanban.org

Quyết định 33/2020/QĐ-TA

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 04/08/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phan Thanh T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, kể từ ngày 18-6-2020. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phan Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ H
TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 33/2020/QĐ-TAThị xã H, ngày 04 tháng 8 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH T

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Cẩm Ly

2. Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Thảo Quyên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2020, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 30/2020/QĐ-TA ngày 22 tháng 7 năm 2020 đối với:

Họ và tên Phan Thanh T; Giới tính: nam; Sinh năm 1999; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Cao đài; Trình độ văn hóa: 10/12; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp P, xã S, huyện D, tỉnh T; Chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: không có.

Tiền án: không có

Tiền sự: không có.

Con bà Phan Thị Ngọc Mềm.

Hiện đang lưu trú và chữa bệnh tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T, anh T có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã H, tỉnh T.

Đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Quan Lộc - Chức vụ: Trưởng phòng.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Châu Phương Hoa - Chức vụ: Chuyên viên (Theo giấy ủy quyền số 34/GUQ-P.LĐTBHX ngày 04 tháng 8 năm 2020)

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bích Du - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 17-6-2020, anh Phan Thanh T sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an xã Trường Tây, thị xã H, tỉnh T tiến hành thử nhanh chất ma túy và cho kết quả dương tính.

Anh T trình bày đã nhiều lần sử dụng ma túy, loại ma túy đá, hình thức sử dụng là hít. Ngày 17-6-2020, Công an xã Trường Tây có văn bản gửi Trạm y tế xã Trường Tây về việc xác định người nghiện ma túy đối với anh Phan Thanh T và cùng ngày Trạm y tế xã Trường Tây có phiếu trả lời kết quả xác định anh Phan Thanh T là người nghiện ma túy đá.

Qua làm việc, anh T thừa nhận có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Phước Lợi 2, xã Suối Đá, huyện Dương Minh Châu, tỉnh T. Tại phần trả lời xác minh của phiếu xác minh tình trạng cư trú ngày 18-6-2020 của Công an xã Suối Đá, và các biên bản xác minh thể hiện, anh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ nêu trên, tuy nhiên anh T không sinh sống tại đây mà thường xuyên đi lang thang, địa phương không rõ anh T đi đâu, làm gì. Do anh T không có nơi cư trú ổn định nên ngày 18-6-2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Trường Tây, thị xã H, tỉnh T ra Quyết định số 140/QĐ-UBND đề nghị đưa anh Phan Thanh T vào Cơ sở cai nghiện ma túy để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn anh T lý trong thời gian làm thủ tục đưa anh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã H: Căn cứ vào hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh Phan Thanh T do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Trường Tây, thị xã H, tỉnh T lập, thể hiện: anh Phan Thanh T là người nghiện ma túy đá, không có nơi cư trú ổn định, đã bị Công an xã Trường Tây, thị xã H, tỉnh T lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy của Trạm y tế xã Trường Tây, thị xã H, tỉnh T ngày 17-6-2020 xác định anh Phan Thanh T là người nghiện ma túy đá. Đề nghị Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phan Thanh T, thời gian từ 12 tháng đến 15 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H: Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phan Thanh T, thời gian từ 12 tháng đến 15 tháng.

Tại phiên họp, anh Phan Thanh T thừa nhận bản thân có sử dụng ma túy đá, đồng ý đi cai nghiện nhưng xin thời gian cai nghiện ngắn để sớm trở về với gia đình.

XÉT THẤY:

Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã H; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, có đủ cơ sở xác định:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh T đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phan Thanh T, hồ sơ đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103 và Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điểm 3 khoản 1, điểm 2, 3 khoản 2, Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Anh Phan Thanh T biết rõ tác hại của ma túy đá đối với bản thân, đối với con người, cộng đồng và xã hội nhưng vẫn sử dụng và bị nghiện. Do đó, để tạo điều kiện cho anh Phan Thanh T chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề nên cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thị xã H, tỉnh T quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phan Thanh T.

Trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, anh Phan Thanh T thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy đá và đồng ý đi cai nghiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Về tính tiết tăng nặng: anh T không có tình tiết tăng nặng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 6, Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104 và Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điểm 3 khoản 1, điểm 2, 3 khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phan Thanh T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, kể từ ngày 18-6-2020. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thị xã H, tỉnh T; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã H, tỉnh T.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ