vanban.org

Quyết định 328/2018/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/04/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Hoàng T.

Tuyên bố bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1940; giới: nữ; địa chỉ: 466 (số cũ 13) đường A, Phường K, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự. Về lệ phí sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông Nguyễn Hoàng T chịu, được cấn trừ vào số tiền đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "mở phiên họp"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Hoàng T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 328/2018/QĐST-DS
Ngày: 27-4-2018

QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT YÊU CẦU

TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI MẤT NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Tuấn Nhu.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Đài Trang - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Trúc Giang, Kiểm sát viên.

Đã mở phiên họp công khai ngày 27 tháng 4 năm 2017 tại trụ sở của Tòa án nhân dân quận Tân Bình để giải quyết việc dân sự thụ lý số 14/2018/TLST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2018 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số 07/2018/QĐST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2018.

Người yêu cầu: Ông Nguyễn Hoàng T, năm sinh 1978; địa chỉ: 466 (số cũ 13) đường A, Phường K, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bị yêu cầu: Bà Huỳnh Thị Đ, năm sinh 1940; địa chỉ: 466 (số cũ 13) đường A, Phường K, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Huỳnh Lan Ph, năm sinh 1980; địa chỉ: 466 (số cũ 13) đường A, Phường K, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY:

Theo đơn trình bày của ông Nguyễn Hoàng T: Bà Huỳnh Thị Đ, năm sinh 1940 là vợ của ông Nguyễn Văn C, năm sinh 1926 (chết năm 2004). Bà Huỳnh Thị Đ và ông Nguyễn Văn C có 02 người con là ông Nguyễn Hoàng T, năm sinh 1978 và bà Nguyễn Huỳnh Lan Ph, năm sinh 1980.

Bà Huỳnh Thị Đ bị tai biến và hiện đang điều trị tại Bệnh viện phục hồi chức năng điều trị bệnh nghề nghiệp Quận 8 nhưng không thể nhận biết những người xung quanh và sinh hoạt hàng ngày của bà Huỳnh Thị Đ đều phải do người thân trong gia đình giúp đỡ. Để bổ túc các hồ sơ có liên quan, nên ông Nguyễn Hoàng T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Huỳnh Thị Đ, năm sinh 1940 mất năng lực hành vi dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Huỳnh Lan Ph trình bày: Bà Huỳnh Thị Đ là vợ của ông Nguyễn Văn C (chết năm 2004) đồng thời là mẹ ruột của bà và ông Nguyễn Hoàng T. Bà Huỳnh Thị Đ bệnh ngày càng trầm trọng và không còn nhận biết được những người thân trong gia đình cũng như tự phục vụ bản thân. Nay, ông Nguyễn Hoàng T yêu cầu tuyên bố bà Huỳnh Thị Đ, năm sinh 1940 mất năng lực hành vi dân sự thì bà cũng đồng ý.

Tại phiên họp:

Ông Nguyễn Hoàng T và bà Nguyễn Huỳnh Lan Ph vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Huỳnh Thị Đ, năm sinh 1940 mất năng lực hành vi dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Theo lời trình bày của các đương sự và căn cứ vào kết luận giám định pháp y tâm thần số 1013/2018/KLGĐTC ngày 20/3/2018 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh kết luận bà Huỳnh Thị Đ, năm sinh 1940 mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, yêu cầu của ông Nguyễn Hoàng T là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Hoàng T về việc tuyên bố bà Huỳnh Thị Đ, năm sinh 1940 mất năng lực hành vi dân sự.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc, lời trình bày và xác nhận của đương sự tại phiên họp.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến.

XÉT THẤY:

Ông Nguyễn Hoàng T yêu cầu tuyên bố bà Huỳnh Thị Đ mất năng lực hành vi dân sự, bà Huỳnh Thị Đ hiện cư trú tại địa chỉ: 466 (số cũ 13) Âu Cơ, Phường 10, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ bản sao hôn-thú số hiệu: 893 năm 1977 lập ngày 22/9/1977 của Ủy ban nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện bà Huỳnh Thị Đ và ông Nguyễn Văn C là vợ chồng. Tại bản sao khai sinh số 79, quyển số 01/78 ngày 12/6/1978 và giấy khai sinh số 100/1980, quyền 1/P.23 ngày 08/7/1980 của Ủy ban nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thể hiện ông Nguyễn Hoàng T, năm sinh 1978 và bà Nguyễn Huỳnh Lan Ph, năm sinh 1980 là con ruột của bà Huỳnh Thị Đ và ông Nguyễn Văn C. Đồng thời tại giấy chứng tử số 113/KTTH, quyển số 01/2004 ngày 27/9/2004 của Ủy ban nhân dân Phường 10, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện ông Nguyễn Văn C, năm sinh 1926 chết ngày 14/9/2004. Như vậy, ông Nguyễn Hoàng T là con ruột của bà Huỳnh Thị Đ nên có tư cách để yêu cầu tuyên bố bà Huỳnh Thị Đ mất năng lực hành vi dân sự.

Ngày 14/12/2017, ông Nguyễn Hoàng T có đơn gửi Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu tuyên bố bà Huỳnh Thị Đ, năm sinh 1940 mất năng lực hành vi dân sự.

Ngày 08/3/2018, Tòa án nhân dân quận Tân Bình quyết định trưng cầu pháp y tâm thần đối với bà Huỳnh Thị Đ, năm sinh 1940.

Tại kết luận Giám định pháp y tâm thần số 1013/2018/KLGĐTC ngày 20/3/2018 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh kết luận bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1940; giới: nữ; địa chỉ: 466 (số cũ 13) đường A, Phường K, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

Về y học: Đương sự bị bệnh Sa sút tâm thần trong bệnh mạch máu não, mức độ nặng (F01-ICD10).

Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 22 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Hoàng T yêu cầu tuyên bố bà Huỳnh Thị Đ, năm sinh 1940 bị mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ.

Lệ phí việc dân sự: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng do ông Nguyễn Hoàng T chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 372, Điều 377 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Căn cứ Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Hoàng T.

Tuyên bố bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1940; giới: nữ; địa chỉ: 466 (số cũ 13) đường A, Phường K, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự.

2. Về lệ phí sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông Nguyễn Hoàng T chịu, được cấn trừ vào số tiền đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0007497 ngày 27/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình.

3. Về quyền kháng cáo:

Ông Nguyễn Hoàng T và bà Nguyễn Huỳnh Lan Ph được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được quyền kháng nghị trong hạn 10 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định của Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ