vanban.org

Quyết định 328/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
____________________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 328/2018/QĐDS-ST
Ngày: 17/7/2018
V/v tuyên bố một người
mất năng lực hành vi dân sự

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Thành phần giải quyết việc dân sự: Chủ tọa phiên họp: Bà Cao Thị Hiền Luỹ - Thẩm phán Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Ngô Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên. Thư ký phiên họp: Bà Trần Nguyên Hà, Thư ký Toà án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 17 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai để giải quyết việc dân sự thụ lý số 229/2018/TLST-VDS ngày 21/6/2018 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 248/2018/QĐ-MPH ngày 09/7/2018. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trương C, sinh năm: 1932 Địa chỉ: số nhà 700/7 đường V, Khu phố X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Trương Thị N, sinh năm; 1962 Địa chỉ: số nhà 700/9/1 đường V, Khu phố X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. Yêu cầu tuyên bố: Bà Trương Thị G, sinh năm 1969 Địa chỉ: số nhà 700/7 đường V, Khu phố X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh, mất năng lực hành vi dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Bà Trương Ngọc X1, sinh năm: 1952 Địa chỉ: số nhà 18 đường H, phường K, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. 2. Ông Trương Minh C1, sinh năm: 1956 Địa chỉ: số nhà 68/8 Đường I, Khu phố M, phường A, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Bà Trương Thị N, sinh năm: 1962 Địa chỉ: số nhà 700/9/1 đường V, Khu phố X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. 4. Bà Trương Thị L, sinh năm: 1964 Địa chỉ: số nhà 700/7 đường V, Khu phố X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. 5. Bà Trương Thị Đ, sinh năm: 1966 Địa chỉ: số nhà 700/5/1 đường V, Khu phố X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. 6. Ông Trương Quốc C2, sinh năm: 1972 Địa chỉ: số nhà 700/7 đường V, Khu phố X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. 7. Bà Trương Ngọc L1, sinh năm: 1974 Địa chỉ: số nhà 880/13 đường I, Khu phố D, phường E, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết: Tại đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự ngày 12 tháng 6 năm 2018 của ông Trương C và lời trình bày của người đại diện theo uỷ quyền bà Trương Thị N: Vợ chồng ông Trương C và bà Phạm Thị G1 có 09 người con chung, gồm Trương Ngọc X, Trương Minh C1, Trương Thị C3, Trương Thị N, Trương Thị L, Trương Thị Đ, Trương Thị G, Trương Quốc C2 và Trương Ngọc L1. Trong số những người con của ông C bà G1 có bà Trương Thị C3 đã chết ngày 28/4/2018 còn bà Trương Thị G bị bệnh tâm thần từ năm 1990, thời gian đầu bệnh còn nhẹ nên bà G còn nhận biết được các thành viên trong gia đình nhưng từ năm 2000 đến nay thì bà G không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, không mặc quần áo, không tự vệ sinh cá nhân và thậm chí còn đánh người khác. Bà Phạm Thị G1 đã chết năm 2015 nên ông C là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng bà G. Để thuận lợi trong việc thực hiện các quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của bà G, ông C yêu cầu Toà án tuyên bố Trương Thị G (là con ruột) mất năng lực hành vi dân sự. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Trương Ngọc X, ông Trương Minh C1, bà Trương Thị N, bà Trương Thị L, bà Trương Thị Đ, ông Trương Quốc C2 và bà Trương Ngọc L1 là anh, chị, em ruột của bà Trương Thị G thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu của ông Trương C. Tại phiên họp, người đại diện theo uỷ quyền của ông Trương C giữ nguyên yêu cầu, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp phát biểu ý kiến và đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu của đương sự, tuyên bố bà Trương Thị G mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên họp. Toà án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định: [1] Về tố tụng: yêu cầu của ông Trương C là yêu cầu về dân sự “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, được quy định tại Khoản 1 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Căn cứ bản sao trích lục khai sinh số 581/TLKS-BS ngày 07/6/2018 của Uỷ ban nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở xác định bà G là con của ông Trương C và bà Phạm Thị G1. Do ông C là cha ruột và hiện tại đang nuôi dưỡng, chăm sóc bà G nên ông C có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố bà Trương Thị G mất năng lực hành vi dân sự. Bà Trương Thị G có hộ khẩu và cư trú tại quận Thủ Đức , nên vu ̣ viê ̣c thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về nội dung: sau khi thu ̣ lý viê ̣c dân sự , ngày 29 tháng 6 năm 2018 Toà án nhân dân quận Thủ Đức đã quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với bà Trương Thị G. Tại Kết luận Giám định pháp y tâm thần số 2800/2018/KLGĐTC ngày 05 tháng 7 năm 2018 của Trung tâm pháp y tâm thần – Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 1. Về y học: Đương sự bị bệnh tâm thần phân liệt, thể di chứng, tiến triển từng giai đoạn với thiếu sót tăng dần (F20.5.1-ICD10). 2. Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thực và điều khiển hành vi. Căn cứ kết luâ ̣n của Trung tâm pháp y tâm thần – Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có đủ cơ sở xác định bà Trương Thị G mất năng lực hành vi dân sự. Như vâ ̣y, yêu cầu của ông Trương C là hợp pháp, phù hợp với quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận. [3] Lệ phí: Ông Trương C là người cao tuổi, hồ sơ đề nghị miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí và lệ phí giải quyết việc dân sự của ông C đầy đủ, đúng quy định nên căn cứ Điều 12; Điều 14 và Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thương vụ Quốc hội, chấp nhận đề nghị miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự của ông Trương C. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 4; Khoản 1, Điều 27; Điểm a, Khoản 2, Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371 và Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thương vụ Quốc hội. 1. Chấp nhận yêu cầu của ông Trương C; Tuyên bố bà Trương Thị G, sinh ngày 12/9/1969, cư trú tại số nhà 700/7 đường V, Khu phố X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh, mất năng lực hành vi dân sự. 2. Lệ phí sơ thẩm: Ông Trương C được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí và tiền lệ phí giải quyết viê ̣c dân sự sơ thẩm. 3. Quyền và thời hạn kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Toà án tuyên quyết định. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày , kể từ ngày nhận được quyết định.

Cỡ chữ