- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Hà Thị M - Lê Văn X"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Hà Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 500 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 322/2023/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Tú Oanh
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Huyền
Bà Trịnh Thị Ánh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Kiểm sát viên.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Thọ - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 452/2022/QĐST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2022, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Hà Thị M
Địa chỉ: số nhà 257/22C đường C, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Giấy ủy quyền ngày 02/02/2013): Ông Hồ Thành Đ, địa chỉ: số nhà 108 đường NX, phường Đ, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Lê Văn X
2.2. Ông Hứa Văn V, địa chỉ: số nhà 16/18 đường TN, Phường G, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người Đ diện theo ủy quyền: Ông Hứa Văn M1, địa chỉ: số nhà 487/4 đường TH, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Giấy ủy quyền ngày 02/3/2006).
2.3 Bà Lý Thị L,địa chỉ: số nhà 489B đường TH, phường T, quận P Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng S, địa chỉ: số nhà 600/2/29 đường HB, Phường X, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.4 Bà Trương Thị T, địa chỉ: số nhà 707/7 đường HV, Phường X, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Lê Quang L1, địa chỉ: số nhà 65 đường BC, Phường X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2 Ông Hứa Văn M1, địa chỉ: số nhà 487/4 đường TH, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.3 Ông Lâm Chí N, địa chỉ: số nhà 489A đường TH, phường T, quận P Thành phố Hồ Chí Minh..
3.4 Bà Nguyễn Thị P, địa chỉ: số nhà 489B đường TH, phường T, quận P Thành phố Hồ Chí Minh..
3.5 Bà Từ Man H, địa chỉ: số nhà 489B đường TH, phường T, quận P Thành phố Hồ Chí Minh..
3.6 Bà Hà Quế N1, địa chỉ: số nhà 487/6 đường TH, phường T, quận P Thành phố Hồ Chí Minh..
3.7 Ông Nguyễn Phan H1, địa chỉ: số nhà 487/8 đường TH, phường T, quận P Thành phố Hồ Chí Minh..
Tại Đơn kháng cáo đề ngày 12/11/2022, nguyên đơn bà Hà Thị M kháng cáo toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 452/2022/QĐST-DS ngày 21/10/2022 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh không thấu tình đạt lý.
XÉT THẤY:
Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 772/2022/QĐST-DS của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành ngày 18/3/2022 và được giao cho ông H2, bà H3 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ngày 01/4/2022. Đến ngày 04/4/2022, ông Nguyễn Minh H2, bà Nguyễn Thị Xuân H3 nộp đơn kháng cáo. Như vậy, việc kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn luật định và đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận về mặt hình thức.
Theo nội dung đơn kháng cáo do người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng họ đang khiếu nại lần hai thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 582/TB-TA ngày 23/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức và chưa nhận được kết quả giải quyết khiếu nại lần hai của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy yêu cầu Tòa án giải quyết kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 772/2022/QĐST-DS ngày 18/3/2022, của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, ngày 27/9/2019, Tòa án nhân dân Quận 9 (nay là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý hồ sơ về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; ngày 23/12/2021, Thẩm phán ban hành Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 582/TB-TA. Ngày 06/01/2022, ông Nguyễn Minh H2, bà Nguyễn Xuân H3 là người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn làm đơn khiếu nại về việc Thẩm phán chậm giải quyết vụ án và yêu cầu hủy Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 582/TB-TA ngày 23/12/2021. Ngày 24/01/2022, việc khiếu nại này đã được Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 05/2022/QĐ-GQKN, với nội dung không chấp nhận toàn bộ đơn khiếu nại ngày 06/01/2022 của ông Nguyễn Minh H2, bà Nguyễn Xuân H3. Ngày 15/2/2022, ông Nguyễn Minh H2, bà Nguyễn Xuân H3 tiếp tục khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và được Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại (lần hai) số 156/2022/QĐ-GQKN không chấp nhận khiếu nại ngày 06/04/2022. Đến ngày 18/3/2022, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 772/2022/QĐST-DS với lý do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản theo điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Xét thấy, về nội dung quan hệ tranh chấp, Đơn khởi kiện ngày 12/9/2019 của bà Võ Thị Minh Phương đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn D và bà Lê Thị Thanh T phải trả cho bà diện tích đất 6,4 m2 (ngang khoảng 0,54m, dài khoảng 23,91m, thuộc thửa đất số 650, tờ bản đồ số 62, tọa lạc tại phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 03866 cấp ngày 06/03/2014 được cập nhật biến động sang tên ngày 07/12/2018, giá trị tạm tính của diện tích đất đang tranh chấp là 15.000.000 đồng; Buộc bị đơn tháo dỡ phần xây dựng lấn chiếm qua phần đất nêu trên của nguyên đơn thuộc thửa đất số 650, tờ bản đồ số 62, tọa lạc tại phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 03866 cấp ngày 06/03/2014. Trị giá tài sản xây dựng tạm tính là 3.000.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
Như vậy, tranh chấp nêu trên thuộc trường hợp tranh chấp tài sản có giá ngạch, việc tiến hành định giá tài sản tranh chấp là cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Mặt khác, tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 05/2022/QĐ-GQKN ngày 24/01/2022, của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức và Quyết định giải quyết khiếu nại (lần hai) số 156/2022/QĐ-GQKN ngày 06/4/2022, của Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đều không chấp nhận khiếu nại của ông H2, bà Hòa và xác định đây là vụ án tranh chấp có giá ngạch nên Thẩm phán ban hành thông báo yêu cầu nguyên đơn nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng để tiến hành thẩm định giá tài sản đang tranh chấp là cần thiết cho việc giải quyết vụ án và đúng pháp luật.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 500 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ của người khiếu nại: “Chấp hành quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng mà mình đang khiếu nại trong thời gian khiếu nại”. Vì vậy, trong thời gian khiếu nại lần hai tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 582/TB-TA ngày 23/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, nguyên đơn vẫn phải có nghĩa vụ chấp hành Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 582/TB-TA ngày 23/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức. Do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản theo Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 582/TB-TA ngày 23/12/2021, của Tòa án nên Thẩm phán căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 772/2022/QĐST-DS ngày 18/3/2022 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp đề nghị Hội đồng phiên họp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, căn cứ điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tuyên giữ nguyên nội dung quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Hà Thị M.
2. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 452/2022/QĐST-DS ngày 21/10/2022 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Hà Thị M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2021/0036692 ngày 18/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Tối Cao; - TAND Cấp cao tại Tp.HCM; - VKSND Cấp cao tại Tp.HCM; - VKSND Tp.HCM; - TAND Q. Tân Phú; - Chi Cục THADS Q. Tân Phú; - Các đương sự; - Lưu: VT, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Tú Oanh |