- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ: Số 80, đường H, khóm C, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng đối với bà Kim Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 320/QĐ-TA | TP. S, ngày 27 tháng 11 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Vương Thị Lệ Hằng
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Thuận
Ngày 27 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 178/QĐ-TA ngày 16 tháng 11 năm 2020 về việc mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với:
Họ và tên: Kim Thị T, Giới tính: Nữ
Sinh năm 1997
Dân tộc: Khmer
Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: 9/12
Nguyên quán: Thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 13, Kênh S, khóm A, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Chỗ ở hiện nay: Số nhà 13, Kênh S, khóm A, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Nghề nghiệp: Không
Tiền án: Không
Tiền sự: Không
Con ông Kim S và bà Nguyễn Thị S; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 13, Kênh S, khóm A, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
(vắng mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đặng Hoàng Khang – Chuyên viên Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố S (Văn bản Ủy quyền ngày 20/11/2020).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Lê Ngọc, Kiểm sát viên.
3. Những người khác: Ông Huỳnh Chí Linh – Đại diện Công an phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Giấy ủy quyền số 16/UQ-CAP ngày 24/11/2020).
NHẬN THẤY:
Bà Kim Thị T là đối tượng nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định và đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn 03 (ba) tháng theo Quyết định số 157/QĐ-UBND ngày 11/8/2020 của Ủy ban nhân dân phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Ngày 23/10/2020, Công an phường B, thành phố S phát hiện bà Kim Thị T có nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an phường B cùng Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, Trạm y tế phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng kiểm tra chất ma túy đối với bà T, kết quả bà T dương tính với ma túy đá (Methamphetamine). Công an phường B, thành phố S tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, thành phố S lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà T.
Ý kiến của Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh Sóc Trăng: Bà Kim Thị T là đối tượng nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định và bà T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng bà T không sửa đổi mà vẫn còn nghiện. Về nhân thân, bà T không có tiền án, tiền sự. Từ những tình tiết trên, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố S xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng đối với bà T thời gian là 20 (hai mươi) tháng.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng: Từ khi thụ lý đến phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố S đã thực hiện về trình tự, thủ tục đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Kim Thị T được tiến hành đúng trình tự, thẩm quyền và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố S xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà T 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày bà T bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên họp cũng như ý kiến của cơ quan đề nghị, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S, thấy rằng:
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở Cai nghiện bắt buộc đối với bà Kim Thị T phù hợp với quy định tại Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Tại phiên họp bà Kim Thị T vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ Quyết định mở phiên họp và Thông báo về việc hoãn phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, căn cứ vào Điều 19 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt bà T và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.
Xét thấy, tại biên bản vi phạm hành chính do Công an phường B, thành phố S lập ngày 23/10/2020, bản tường trình của bà T có đủ cơ sở để xác định bà T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ vào biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 23/10/2020 của Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng kết luận bà T nghiện ma túy đá (Methamphetamine).
Bà Kim Thị T là người trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định và đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 157/QĐ-UBND ngày 11/8/2020 của Ủy ban nhân dân phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Trong thời gian chấp hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, bà T lại tiếp tục vi phạm cụ thể là vào ngày 20/10/2020, bà T đã sử dụng ma túy (Bản tường trình và biên bản ghi lời khai ngày 23/10/2020 của bà T) nên Ủy ban nhân dân phường B, thành phố S đã ra Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với bà T (Quyết định số 45/QĐ-UBND ngày 26/10/2020) và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện đối với bà T theo đúng quy định tại Điều 1 Nghị định 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Xét hành vi của bà T thì bà T thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 1 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính, biên bản ghi lời khai, bà T nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy và lần cuối sử dụng ma túy là vào ngày 20/10/2020. Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính “Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật này”, do đó thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với bà T vẫn còn.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hành chính:
Bà Kim Thị T không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên bà T đã sử dụng ma túy trong một thời gian dài từ năm 2016, đến ngày 11/8/2020, bà T bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn 03 (ba) tháng. Trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì bà T lại tiếp tục sử dụng ma túy. Hành vi sử dụng ma túy của bà T không những gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, hạn chế khả năng lao động, giảm kinh tế của gia đình mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây khó khăn cho công tác phòng chống ma túy của Nhà nước. Mặt khác, trong quá trình Công an phường B, thành phố S mời bà T đến làm việc, mặc dù bà T đã tự nguyện khai báo. Tuy nhiên khi Tòa án nhân dân thành phố S tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với bà T thì bà vắng mặt không lý do, điều này thể hiện thái độ không thành thật hối lỗi của bà T do đó cần phải xử lý nghiêm nhằm để răn đe, giáo dục.
Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh Sóc Trăng về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà T là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, Khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3, Điều 19, Điều 22, Điều 23 và Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Khoản 1 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ: Số 80, đường H, khóm C, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng đối với bà Kim Thị T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày bà Kim Thị T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Bà Kim Thị T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố S, tỉnh Sóc Trăng chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thành phố S; - Trưởng Công an thành phố S ; - Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố S; - Người bị áp dụng; - UBND phường B, TPS; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ ADBPXLHC. | THẨM PHÁN Vương Thị Lệ Hằng |