vanban.org

Quyết định 32/2025/QĐST-HC — Hành chính

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 31/07/2025 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 58/2025/TLST-HC ngày 11 tháng 6 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”, giữa:

Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1962; nơi cư trú: Số 1067 đường Nguyễn Lương Bằng, tổ dân phố Đẩu Sơn 1, phường Văn Đẩu, quận K, thành phố H (nay là Số 1067 đường Nguyễn Lương Bằng, tổ dân phố Đẩu Sơn 1, phường P, thành phố H). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Văn Lực - UBND Kiến An"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 58/2025/TLST-HC ngày 11 tháng 6 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”, giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính; Điều 38 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 32/2025/QĐST-HCHải Phòng, ngày 31 tháng 7 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Căn cứ vào khoản 5 Điều 38, Điều 143 và Điều 144 của Luật tố tụng hành chính;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm;

Xét thấy nội dung yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Nguyễn Văn L đề nghị Toà án huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Uỷ ban nhân dân quận Kiến An đã cấp cho ông Phạm Tiến Túc và bà Bùi Thị Xiêng vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho vợ chồng ông Túc chồng lấn vào phần diện tích 20,11m2 đất mà vợ chồng ông L đã được Uỷ ban nhân dân quận K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp. Quá trình giải quyết vụ án đã xác định được phần diện tích 20,11m2 đất ông L đang cho rằng Uỷ ban nhân dân quận K cấp cho vợ chồng ông Túc đã chồng lấn sang phần diện tích đất của gia ông L đã được giải quyết tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 13/9/2024 của Toà án nhân dân quận K và bản án dân sự phúc thẩm số 77/2024/DS-PT ngày 11/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố H hiện đang có hiệu L pháp luật với nội dung “ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Tiến Túc, bà Bùi Thị Vĩnh. Buộc ông Nguyễn Văn L, bà Bùi Thị Xiêng (có tên khác là Bùi Thị Siêng) phải tháo dỡ, di dời các tài sản gắn liền diện tích đất bị lấn chiếm 20,11m² gồm: Một phần công trình vệ sinh tường gạch bê tông cốt thép là 0,8m x 1,7m = 1,32m²; bức tường gạch 220: 4,5m chiều rộng x 2,5m chiều cao; 01 (một) cây lộc vừng và phải trả cho ông Phạm Tiến Túc, bà Bùi Thị Vĩnh quyền sử dụng diện tích đất bị lấn chiếm 20,11m² theo các ranh giới của mốc giới 1,2,3,10,1 (theo Sơ đồ hiện trạng thửa đất) tại thửa đất số 15-02, tờ bản đồ số 21(303591-7-(c); địa chỉ: Tổ dân phố Đầu Sơn 3, phường Văn Đẩu, quận K, thành phố H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX418729, số vào sổ cấp GCN: CH00172 ngày 14 tháng 7 năm 2020 do Ủy ban nhân dân quận K, thành phố H cho ông Phạm Tiến Túc, bà Bùi Thị Vĩnh.”

Do vậy việc tranh chấp đối với 20,11m2 đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX418729, số vào sổ cấp GCN: CH00172 ngày 14 tháng 7 năm 2020 do Ủy ban nhân dân quận K, thành phố H cho ông Phạm Tiến Túc, bà Bùi Thị Vĩnh đã được giải quyết tại bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 13/9/2024 của Toà án nhân dân quận K và bản án dân sự phúc thẩm số 77/2024/DS-PT ngày 11/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố H hiện đang có hiệu lực pháp luật.

Tại điểm h khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng Hành chính quy định các trường hợp đình chỉ vụ án được quy định tại khoản 1 Điều 123: “ d) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”. Như vậy, yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận nhận quyền sử dụng đất mà ông L đang đề nghị Toà án giải quyết đã được giải quyết theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 58/2025/TLST-HC ngày 11 tháng 6 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”, giữa:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1962; nơi cư trú: Số 1067 đường Nguyễn Lương Bằng, tổ dân phố Đẩu Sơn 1, phường Văn Đẩu, quận K, thành phố H (nay là Số 1067 đường Nguyễn Lương Bằng, tổ dân phố Đẩu Sơn 1, phường P, thành phố H).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Bà Trịnh Thùy D và bà Nguyễn Thị Mỹ D– Luật sư Công ty Luật Hợp danh Atlantic Việt Nam, Đoàn luật sư thành phố H.

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân quận K, thành phố H; địa chỉ trụ sở: Số 02 đường Cao Toàn, phường Trần Thành Ngọ, quận K, thành phố H.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Uỷ ban nhân dân quận K: Ủy ban nhân dân phường P, thành phố H; địa chỉ trụ sở: Số 618 Nguyễn Lương Bằng, phường P, thành phố H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Bùi Thị X (tên gọi khác: Bùi Thị Siêng), sinh năm: 1962; nơi cư trú: Số 1067 đường Nguyễn Lương Bằng, tổ dân phố Đẩu Sơn 1, phường Văn Đẩu, quận K, thành phố H (nay là Số 1067 đường Nguyễn Lương Bằng, tổ dân phố Đẩu Sơn 1, phường P, thành phố H);

+ Ông Phạm Tiến T, sinh năm: 1965; nơi cư trú: Đường Trần Phương, tổ dân phố Đẩu Sơn 2, phường Văn Đẩu, quận K, thành phố H (nay là Đường Trần Phương, tổ dân phố Đẩu Sơn 2, phường P, thành phố H).

+ Bà Bùi Thị V, sinh năm: 1965; địa chỉ: Đường Trần Phương, tổ dân phố Đẩu Sơn 2, phường Văn Đẩu, quận K, thành phố H (nay là Đường Trần Phương, tổ dân phố Đẩu Sơn 2, phường P, thành phố H).

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án.

- Về án phí: Ông Nguyễn Văn L thuộc đối tượng được miễn nộp tiền án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định này hoặc kể từ ngày Quyết định này được niêm yết công khai theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Cỡ chữ