vanban.org

Quyết định 32/2025/QĐST-DS — Tranh chấp đất đai

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án Dân sự sơ thẩm đã thụ lý số: 30/2024/TLST- DS ngày 30/10/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Khanh, sinh năm 1957; Bị đơn: Ông Trần Đăng Mạnh, sinh năm 1972; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Khanh-Mạnh"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án Dân sự sơ thẩm đã thụ lý số: 30/2024/TLST- DS ngày 30/10/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẮC NINH
Số: 32/2025/QĐST-DS
Tiên Du, ngày 03 tháng 4 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào các Điều 48; 217, 218, 219 và khoản 2, điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Nhận thấy: Theo đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai bà Nguyễn Thị Khanh trình bày: Bà là chủ sử dụng thửa đất số 353, tờ bản đồ số 6, diện tích 156 m2 đã được UBND huyện Tiên Du cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2015; hộ ông Trần Đăng Lưu, bà Lê Thị Loát (là bố ông Trần Đăng Mạnh) là chủ sử dụng thửa đất số 354, tờ bản đồ số 6. Năm 2011, ông Mạnh xây nhà có lấn sang nhà bà kéo từ Đông sang Tây là 13m, chiều rộng là 1,04m, diện tích là 13 m2. Do đó, bà Khanh yêu cầu ông Mạnh phải tháo dỡ các công trình trả lại bà phần đất lấn chiếm trên.

Xét thấy: Theo đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai bà Nguyễn Thị Khanh trình bày tại hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 30/2022/TLST-DS ngày 15/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Tiên Du, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất: Bà Khanh là chủ sử dụng thửa đất số 353, tờ bản đồ số 6, diện tích 156m2; hộ ông Trần Đăng Lưu, bà Lê Thị Loát là chủ sử dụng thửa đất số 354, tờ bản đồ số 6, diện tích 198m2. Năm 2011, gia đình ông Lưu, bà Loát xây nhà có lấn sang nhà bà kéo từ Đông sang Tây là 13m, chiều rộng là 1,04m. Do đó, bà Khanh yêu cầu ông Lưu, bà Loát phải tháo dỡ các công trình trả lại bà phần đất lấn chiếm trên.

Trước đó: Ngày 10/7/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh có Bản án hành chính sơ thẩm số 06/2020/HC-ST về việc yêu cầu hủy Quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Khanh; người bị kiện là UBND huyện Tiên Du; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Trần Đăng Lưu; bà Lê Thị Loát, anh Trần Đăng Mạnh, UBND xã Đại Đồng.

Tại Bản án hành chính nhận định: Nguồn gốc thửa đất của bà Khanh và ông Lưu, bà Loát được UBND xã Đại Đồng giao năm 2008 theo Quyết định số 1775/QĐ-UBND ngày 29/12/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh. Bà Nguyễn Thị Khanh được giao 137m2; gia đình ông Lưu, bà Loát được giao 132 m2.

Về quá trình sử dụng đất thì cả 02 gia đình đều xác định sử dụng đất ổn định từ khi được giao đất năm 2008. Năm 2011, gia đình ông Lưu xây dựng nhà cấp 4 lợp Prximang trên toàn bộ thửa đất. Năm 2013, bà Khanh cũng xây dựng nhà 02 tầng trên toàn bộ thửa đất. Hiện trạng sử dụng đất hiện nay không có sự thay đổi.

Theo kết quả xem xét thẩm định thì hiện trạng sử dụng thực tế bà Khanh sử dụng là 144,4m2; hiện trạng thực tế của ông Lưu, bà Loát là 210,4m2. Cạnh hướng Đông thửa đất của bà Khanh giáp ngõ đi có chiều dài thực tế sử dụng chỉ là 11,96m; phần chênh lệch nằm trên diện tích hiện trạng sử dụng đất của ông Lưu, bà Loát. Trong khi đó hiện trạng sử dụng đất của hai gia đình đều xây dựng công trình từ trước khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hiện hai gia đình đã xây dựng hết phần đất không còn phần đất trống. Như vậy, UBND huyện Tiên Du cấp GCNQSD đất cho bà Khanh (đối với thửa đất số 353, tờ bản đồ số 6, diện tích 156m2) và ông Lưu, bà Loát (đối với thửa đất số 354, tờ bản đồ số 6, diện tích 198m2) là không đúng với hiện trạng sử dụng đất thực tế của 2 gia đình.

Từ nhận định trên Bản án quyết định:

“1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Khanh gồm:

Bác yêu cầu khởi kiện hủy quyết định số 7118/QĐ-UBND ngày 11/12/2018 của UBND huyện Tiên Du về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.

- Bác yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu UBND huyện Tiên Du giao trả lại cho bà Khanh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Tiên Du cấp ngày 26/6/2015 mang tên Nguyễn Thị Khanh đối với thửa đất số 353, tờ bản đồ số 6, diện tích 156m2 tại thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

2. Kiến nghị UBND huyện Tiên Du thực hiện thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Khanh và ông Trần Đăng Lưu, bà Lê Thị Loát theo đúng hiện trạng sử dụng đất hiện nay của hai gia đình”.

Như vậy, việc bà Khanh cho rằng năm 2011 gia đình anh Mạnh lấn chiếm phần đất của bà từ Đông sang Tây là 13m, chiều rộng là 1,04m đã được xem xét tại Bản án hành chính sơ thẩm số 06/2020/HC-ST ngày 10/7/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và giải quyết tại Quyết định số 12/2023/QĐST-DS ngày 03/3/2023 của Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh và Quyết định số 18/2023/QĐ-PT ngày 27/4/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh; Do đó, không có căn cứ để xem xét nữa.

Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 192 và điểm g, khoản 1, Điều 217; khoản 1, điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Đình chỉ giải quyết vụ án Dân sự sơ thẩm đã thụ lý số: 30/2024/TLST- DS ngày 30/10/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Khanh, sinh năm 1957;

Bị đơn: Ông Trần Đăng Mạnh, sinh năm 1972;

Cùng địa chỉ: Thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

- Bà Nguyễn Thị Khanh không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ việc này theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Khanh là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí DSST nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ