vanban.org

Quyết định 32/2020/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Ông Y P yêu cầu tuyên bố bà H R mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 32/2020/QĐST-VDSBuôn Ma Thuột, ngày 30 tháng 11 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Trần Đại Minh.

Thư ký phiên họp: Ông Bùi Văn Cảnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên họp: Ông Y Lương Byă – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 36/2020/TLST-VDS ngày 08/10/2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Y P, sinh năm 1958.

Địa chỉ: Buôn H’, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà H R, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Buôn H’, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, biên bản lấy lời khai và tại phiên họp người yêu cầu ông Y P trình bày:

Ông Y P có người con ruột tên là H R, sinh năm 1991 là con chung của ông và bà H Bl sinh năm 1957. Từ khi mang thai và khi sinh ra cháu H R khỏe mạnh bình thường, đến đầu năm 2014 thì cháu H R có biểu hiện bị bệnh tâm thần không làm chủ được hành vi của bản thân, cụ thể có những biểu hiện như không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, không biết mình là ai, bỏ nhà đi lang thang ..... không thể tự chăm sóc cho bản thân được, mọi công việc sinh hoạt hàng ngày ông Y P và gia đình đều phải trợ giúp, gia đình đã đưa cháu đi chữa bệnh ở nhiều nơi nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm và ngày càng nặng, trầm trọng thêm. Cháu H R hiện đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo sổ lĩnh tiền trợ cấp xã hội hằng tháng. Hiện nay cháu H R không làm chủ được hành vi của bản thân, không thể tự chăm sóc cho bản thân được, mọi công việc sinh hoạt hàng ngày ông Y P và gia đình đều phải trợ giúp, không làm chủ được bản thân thường hay la hết, chửi bới lung tung, không nhận thức được mình làm gì, không nhận ra người thân trong gia đình, hàng xóm, bỏ nhà đi lang thang gia đình phải đi tìm về ....

Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho cháu H R, ông Y P yêu cầu Tòa án tuyên bố cháu H R bị mất năng lực hành vi dân sự.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu có ý kiến:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự, lời khai của người yêu cầu và qua kết quả giám định pháp y tâm thần của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên kết luận: Bà H R, sinh năm 1991; Giới tính: Nữ; Địa chỉ:Buôn H’, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bị bệnh: Tâm thần phân liệt thể đơn thuần (F72.6-ICD10) hiện tại đương sự mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi. Như vậy việc ông Y P yêu cầu Tòa án tuyên bố bà H R mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi dân sự là có căn cứ cần chấp nhận. Đề nghị Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự; Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Chấp nhận đơn của người yêu cầu, tuyên bố bà H R là người mất năng lực hành vi dân sự. Ngươi yêu cầu thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí nên được miễn lệ phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Y P yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố bà H R mất năng lực hành vi dân sự, đây là việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”. Người yêu cầu cư trú tại Buôn H’, xã E, TP. B. Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Về yêu cầu của đương sự: Ông Y P yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố bà H R là người mất năng lực hành vi dân sự và có đơn đề nghị Tòa án trưng cầu giám định sức khỏe, bệnh tật và năng lực hành vi dân sự đối với bà H R. Ngày 02/11/2020 Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 38/2020/QĐ-TA trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên tiến hành giám định sức khỏe, bệnh tật và năng lực hành vi dân sự của bà H R. Ngày 16 tháng 11 năm 2020, Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên đã có Kết luận giám định pháp y tâm thần số 183/KLGĐ kết luận:

- Về y học: Hiện tại đương sự bị bệnh Tâm thần phân liệt thể đơn thuần (F72.6-ICD10).

- Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hiện tại đương sự mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.

Từ các tài liệu, chứng cứ nêu trên, xét thấy việc ông Y P yêu cầu tuyên bố bà H R là người mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận.

Về tiền chi phí giám định và lệ phí:

Về tiền chi phí giám định: Ông Y P đã nộp trực tiếp cho cơ quan giám định nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

Về lệ phí: Ông Y P thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí và có đơn xin miễn lệ phí nên được miễn lệ phí.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của ông Y P.

Tuyên bố: Bà H R, sinh năm 1991 là người mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn lệ phí việc dân sự cho ông Y P.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Người yêu cầu; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày Quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ