- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị T và bà Phạm Thị P"
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 148 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 311/2023/QĐST-VDS | Bình Chánh, ngày 30 tháng 06 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trương Văn Hải
Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên họp: bà Vũ Thị Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 06 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 364/2022/TLST-VDS ngày 04 tháng 10 năm 2022 về yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số 23/2023/QĐST-VDS ngày 16 tháng 06 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1958; Địa chỉ: số D3/19 ấp 4, xã TK, huyện BC, Thành phố H_Có mặt.
- Người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị P, sinh năm: 1982; Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: số D3/19 ấp 4, xã TK, huyện BC, Thành phố H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Phạm Ngọc Thành, sinh năm: 1980; Địa chỉ: số D3/19 ấp 4, xã TK, huyện BC, Thành phố H (có đơn xin vắng mặt).
2/ Bà Phạm Thị Ngà, sinh năm: 1982; Địa chỉ: số F5/14 ấp 6, xã L, huyện BC, Thành phố H_Có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong quá trình giải quyết hồ sơ việc dân sự, người yêu cầu bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Văn B (sinh năm 1964, chết năm 1994) là vợ chồng. Bà T và ông B có 03 người con chung gồm:
1/ Phạm Ngọc T, sinh năm: 1980;
2/ Phạm Thị P, sinh năm: 1982;
3/ Phạm Thị N, sinh năm: 1982;
Do vào thời điểm năm 1996 bà P đã tự ý bỏ nhà ra đi không nói cho gia đình biết, gia đình đã tiến hành tìm kiếm bà P và trình báo sự việc với Công an xã Tân Kiên nhưng vẫn không có tin tức gì về bà P. Năm 2009, bà có làm đơn yêu cầu tuyên bố bà Phạm Thị P mất tích và Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã ban hành Quyết định giải quyết yêu cầu việc tuyên bố một người mất tích số 11/2009/QĐST-VDS ngày 15/09/2009 đối với bà Phạm Thị P.
Nay do cần hoàn tất thủ tục giấy tờ thừa kế di sản nên bà yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phạm Thị P là đã chết.
Trong quá trình giải quyết hồ sơ việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Ngọc T và bà Phạm Thị N trình bày: Ông bà thống nhất với yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phạm Thị P là đã chết. Ngoài ra, ông bà không có ý kiến gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh trình bày:
- Về việc tuân theo thủ tục tố tụng: Tại phiên họp, Thẩm phán và Thư ký cũng như đương sự đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc giải quyết việc dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T đề nghị tuyên bố bà Phạm Thị P, sinh năm: 1982; Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: số D3/19 ấp 4, xã TK, huyện BC, Thành phố H là đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Bà Phạm Thị P đi khỏi địa phương từ năm 1996 đến nay không rõ tin tức. Nay bà Nguyễn Thị T làm đơn yêu cầu tuyên bố bà Phạm Thị P, sinh năm 1982; Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: số D3/19 ấp 4, xã TK, huyện BC, Thành phố H là đã chết. Đây là “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ có cơ sở xác định ông Phạm Văn B (chết năm 1994) và bà Nguyễn Thị T là cha và mẹ của các ông, bà sau: ông Phạm Ngọc T, bà Phạm Thị P và bà Phạm Thị N. Do bà Nguyễn Thị T là mẹ của bà Phạm Thị P nên bà Tầm có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phạm Thị P, sinh năm 1982 là đã chết theo quy định tại Điều 391 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông Phạm Ngọc T có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên căn cứ vào Điều 361, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt ông T.
[4] Về yêu cầu của đương sự:
Ngày 15/09/2009, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định giải quyết yêu cầu việc tuyên bố một người mất tích số 11/2009/QĐST-VDS tuyên bố bà Phạm Thị P, sinh năm 1982 mất tích. Căn cứ kết quả trả lời Công văn số 1661/TAHBC ngày 05/06/2023 của Công an xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận: “Bà Phạm Thị P, sinh năm 1982 không có tạm trú, thường trú và không thực tế cư trú tại D3/19 ấp 4, xã TK, huyện BC, Thành phố H. Năm 1982 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại D3/19 ấp 4, xã TK, huyện BC, Thành phố H. Đến năm 1996, bà P vắng mặt tại địa phương quá 06 tháng đã xóa khẩu cho đến nay”. Như vậy, sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến nay mà vẫn không có bất kỳ thông tin xác thực nào thể hiện bà Phạm Thị P còn sống theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngày 06/01/2023, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh ban hành Quyết định số 01/2023/QĐ-TA về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết. Quyết định này được đăng trên Công thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và được đăng thông báo tìm kiếm trên báo Sài Gòn Giải Phóng trong 3 số liên tiếp ngày 16, 19, 27/01/2023 và phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong 3 ngày liên tiếp ngày 09, 10, 11/02/2023. Đã hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng thông báo tìm kiếm lần đầu tiên mà bà Phạm Thị P vẫn biệt tích, không có bất kỳ thông tin xác thực nào thể hiện bà Phạm Thị P còn sống.
Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015: Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp: “Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống”. Tòa án nhận thấy yêu cầu của bà Nguyễn Thị T xin tuyên bố bà Phạm Thị P là đã chết là có cơ sở chấp nhận.
Quyết định giải quyết yêu cầu việc tuyên bố một người mất tích số 11/2009/QĐST-VDS ngày 15/09/2009 tuyên bố bà Phạm Thị P mất tích có hiệu lực pháp luật vào ngày 01/10/2009 (căn cứ theo Giấy xác nhận bản án – quyết định đã có hiệu lực pháp luật). Như vậy, căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 71 và Điều 148 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án xác định ngày chết của bà Phạm Thị P là ngày 02 tháng 10 năm 2012.
Căn cứ theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015: “1. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với đã chết; 2. Quan hệ tài sản của người bị toà án tuyên bố chết được giải quyết như đối với đã chết, tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế”. Do đó quan hệ về nhân thân và quan hệ tài sản của bà Phạm Thị P được giải quyết theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Xét đề nghị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là có cơ sở nên Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh chấp nhận.
[6] Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 366, khoản 3 Điều 367, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 392, Điều 393 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 71, Điều 72, Điều 148 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị T.
Tuyên bố bà Phạm Thị P, sinh năm 1982, nơi cư trú cuối cùng tại D3/19 ấp 4, xã TK, huyện BC, Thành phố H là đã chết.
Ngày chết của bà Phạm Thị P được xác định là ngày 02 tháng 10 năm 2012.
Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà Phạm Thị P thực hiện theo quy định của Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí Tòa án.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh; - Chi cục THADS huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - UBND xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trương Văn Hải |