vanban.org

Quyết định 31/QĐ-TA

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 08/07/2021 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TTP.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Thanh Phong"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TTP.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 31/QĐ-TAP, ngày 08 tháng 7 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Trần Thị Tố Uyên

2. Thư ký phiên họp: Ông Diệp Bảo Kiệt.

Ngày 08 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số: 31/QĐ-TA ngày 02 tháng 7 năm 2021 đối với:

Họ và tên: TTP, sinh năm 1987.

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 0/12.

Nghề nghiệp: Không.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Làng ĐR, xã ĐR, huyện MY, tỉnh Gia Lai.

Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định.

Con ông: TĐB và bà: NTKK.

Tiền án, tiền sự: Không.

(Vắng mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà ĐHB - Chuyên viên của Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai (theo văn bản ủy quyền số 31/UQ-LĐTBXH ngày 07/7/2021).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai: Bà Phạm Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

TTP là đối tượng nghiện ma túy, không xác định nơi cư trú, sống lang thang không có nơi ở cố định. TTP sử dụng ma túy từ năm 2020, loại ma túy mà TTP sử dụng là Heroin. Ngày 14/4/2021 có hành sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an phường YĐ, thành phố P phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính và đưa đi xét nghiệm. Tại Phiếu trả lời kết quả 43/XN-CSTVCNMT ngày 19/4/2021, TTP dương tính với nhóm thuốc phiện (Heroin).

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TTP với thời hạn từ 12 tháng đến 18 tháng.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Áp dụng điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P giải quyết: Chấp nhận đề nghị của Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai và quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TTP.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường YĐ, thành phố P lập hồ sơ đối với đối tượng TTP là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng TTP được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

TTP là đối tượng nghiện ma túy, không xác định nơi cư trú, sống lang thang không có nơi ở cố định. TTP sử dụng ma túy từ năm 2020, loại ma túy mà TTP sử dụng là Heroin. Ngày 14/4/2021 có hành sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an phường YĐ, thành phố P phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính và đưa đi xét nghiệm. Tại Phiếu trả lời kết quả 43/XN-CSTVCNMT ngày 19/4/2021, TTP dương tính với nhóm thuốc phiện (Heroin).

Vì vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TTP là phù hợp.

Căn cứ vào các Điều 7, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và 108 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ vào các Điều 22, 23, 24, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ vào các Điều 3, 4, 8, 9 và 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TTP.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai.

3. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án. Riêng TTP vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại là 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Cỡ chữ