- Tranh chấp gì? "cai nghiện"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H1.
- Căn cứ chính? Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hàn…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 31/QĐ-TA |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ H
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán chủ trì phiên họp: Bà Đào Thị Thúy.
- Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Huyền Lê.
Ngày 30/10/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – thành phố H tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 32/QĐ-TA ngày 23/10/2025, đối với người bị đề nghị:
Họ và tên: Nguyễn Văn H1, sinh ngày 01/01/1987; Nơi ĐKHKTT: Ấp 7, xã Đốc Binh Kiều, tỉnh Đồng Tháp; Căn cước công dân số: 087087020531 do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn Đua và bà: Nguyễn Thị Thêu; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2006 công an huyện Tháp Mười, tỉnh ĐT(cũ) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 27/5/2004, Toà án nhân dân huyện trân Phú, tỉnh Đồng Nai (cũ) xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Ngày 15/4/2008 Toà án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh ĐT(cũ) xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Bản án số 350/2012/HSST ngày 20/12/2012 của Toà án nhân dân huyện Bình Chánh (cũ), thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản; Bản án số 84/2017/HSST ngày 17/11/2017 của Toà án nhân dâ huyện Thạch Thất (cũ), thành phố H xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Có đơn xin vắng mặt.
- Có sự tham gia của:
1. Đại điện cơ quan đề nghị - Công an xã TP, thành phố H: Ông Phùng Anh Nam – Phó Trưởng công an xã TP (theo Giấy ủy quyền số 853/GUQ ngày 24/10/2025 của Trưởng Công an xã TP). Có mặt.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – thành phố H: Bà Bùi Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, thành phố H. Có mặt.
NHẬN THẤY:
Theo hồ sơ và văn bản đề nghị của Công an xã TP, thành phố H thể hiện:
Ngày 12/10/2025, Công an xã TP, thành phố H xét nghiệm nước tiểu phát hiện Nguyễn Văn H1 dương tính với ma túy nên đã gửi Giấy đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với H1 đến Cơ sở cai nghiện ma túy số 3 – thành phố H. Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 16/10/2025 của Cơ sở cai nghiện ma túy số 3 – thành phố H thể hiện H1 nghiện ma túy loại Heroin.
Tại bản tường trình cũng như biên bản lấy lời khai của Công an xã TP, H1 tự nhận mình có sử dụng ma túy loại Heroin, lần đầu sử dụng là khoảng tháng 01/2025 bằng hình thức đốt ma tuý trên giấy bạc rồi hít khói. Tần suất H1 sử dụng ma túy là 02 lần/tháng. Lần sử dụng ma túy gần đây nhất là ngày 10/10/2025.
Ngày 21/10/2025, Công an xã TP có văn bản số 822/ĐN-CNBB đề nghị Toà án xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H1 theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và Luật phòng, chống ma túy.
Tại phiên họp,
Ý kiến của đại diện Công an xã TP: Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 10 – thành phố H ra quyết định đưa Nguyễn Văn H1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 3 thành phố H với thời gian từ 20 tháng đến 24 tháng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – thành phố H: Hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Văn H1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã đầy đủ theo quy định. Người bị đề nghị là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, không có nơi cư trú ổn định, không thuộc trường hợp bị xem xét xử lý hình sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không thực hiện cai nghiện tự nguyện. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 10 ra quyết định đưa H1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như đề nghị của Công an xã TP.
Người bị đề nghị Nguyễn Văn H1 có đơn xin vắng mặt tại phiên họp, xác định việc Công an xã TP lập hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bản thân là đúng.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào trình bày, tranh luận tại phiên họp của các đương sự, Hội đồng phiên họp nhận định:
1. Về tố tụng:
* Về thẩm quyền giải quyết: Ngày 12/10/2025, Công an xã TP xét nghiệm nước tiểu phát hiện Nguyễn Văn H1 dương tính với ma túy. Ngày 21/10/2025, Công an xã TP có văn bản đề nghị số 822/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H1. Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – thành phố H.
* Về thời H1 áp dụng biện pháp xử lý hành chính:
Ngày 12/10/2025, Nguyễn Văn H1 bị kiểm tra hành chính về lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội, xét nghiệm nước tiểu dương tính với chất ma túy. Tính đến thời điểm Tòa án thụ lý hồ sơ và mở phiên họp, vụ việc còn thời H1 áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại điểm d khoản 2 điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện đúng và đủ theo quy định tại Điều 96, 103 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.
2. Về nội dung đề nghị:
Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ, có đủ căn cứ để xác định người bị đề nghị Nguyễn Văn H1 là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, không có nơi cư trú ổn định, không thuộc trường hợp bị xem xét xử lý hình sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không thực hiện cai nghiện tự nguyện (có đơn từ chối cai nghiện), có hành vi sử dụng ma túy loại Heroin nên thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.
Xét thấy, nếu không đưa đi cai nghiện bắt buộc thì H1 vẫn sẽ tiếp tục sử dụng ma tuý, gây mất trật tự trị an và nguy hiểm cho xã hội nên việc Công an xã TP lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H1 là có căn cứ và cần thiết. Đề nghị của Công an xã TP và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 là đúng theo quy định tại Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.
* Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của người bị áp dụng:
Nhân thân Nguyễn Văn H1 có nhiều tiền án về tội trộm cắp tài sản. Trong quá trình lập hồ sơ, H1 tự nguyện khai báo nên đây được coi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
* Về thời hạn chấp hành cai nghiện bắt buộc:
Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 9 và khoản 2 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025), áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Văn Hiếu vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 (Hai mươi bốn) tháng là phù hợp điều kiện, hoàn cảnh, nhân thân của H1.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy;
Điều 3, 6, 9, 95, 96, 103, 105, 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Khoản 49 Điều 1 Luật số 67/2020/QH14 ngày 13/11/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 22, 23 Điều 1 Luật số 88/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 40, 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Khoản 14 Điều 20 Nghị định số 184/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ về quy định phân định thẩm quyền khi tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực an ninh, trật tự; Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.
Căn cứ vào các Điều 2, 8, 12, 17, 18, 19, 20, 21, 23, 24, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ vào Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H1.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 3, thành phố H (Địa chỉ: Xuân Khanh, phường Tùng Thiện, thành phố H) kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12/10/2025.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Nguyễn Văn H1 có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định; Công an xã TP có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – thành phố H có quyền kháng nghị quyết định này trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 33 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
4. Quyết định này có H1 lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định:
- Công an xã TP phải đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Cơ sở cai nghiện ma túy số 03 thành phố H tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Công an xã TP, TP H; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, TP H; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 03, TP H; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đào Thị Thúy |