vanban.org

Quyết định 31/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc - Võ VănT"
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 17 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
T A N NH N D N
HUY N M C Y NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T NH B N T
Số: 31/QĐ-TA.
Mỏ Cày Nam, ngày 27 tháng 12 năm 2019.

QUY T Đ NH

p dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện b t buộc

T A N NH N D N HUY N M C Y NAM, T NH B N T

Với thành phần tiến hành phiên h p gồm có:

1/ Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nguyên.

2/ Thư ký phiên họp: Ông Đinh Nhật Trường.

Ngày 27 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M Cày Nam, tỉnh Bến Tre; Tòa án nhân dân huyện M Cày Nam, tỉnh Bến Tre tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 32/QĐ-TA ngày 18 tháng 12 năm 2019 đối với:

Người bị đề nghị: V Văn T - Sinh năm: 1984.

- Giới tính: Nam.

- Chứng minh nhân dân số: A, ngày cấp: 29/11/2016, nơi cấp: Công an tỉnh Bến Tre.

- Dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không.

- Trình độ học vấn: 05/12.

- Nguyên quán: Xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Hộ khẩu thường trú: p A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Ch ở: p A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Nghề nghiệp: Mua bán.

- Con ông V Văn N, con bà Lê Thị N1.

- Tiền án: Không.

- Tiền sự: Có ba tiền sự:

+ Ngày 22 tháng 02 năm 2019, bị Công an xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền là 750.000đ (bảy trăm năm mươi ngàn đồng) về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 05/QĐ-XPVPHC (đã nộp phạt).

+ Ngày 13/4/2019, bị Công an xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền là 1.000.000đ (một triệu đồng) về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 15/QĐ-XPVPHC (đã nộp phạt).

+ Ngày 19 tháng 6 năm 2019 bị Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số: 101/QĐ-UBND về áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn là ba tháng kể từ ngày ban hành quyết định về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- V Văn T có mặt tại phiên họp.

* Có sự tham gia của:

1/ Đại diện cơ quan đề nghị: Ông hạm Văn R - Phó Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Bến Tre (văn bản ủy quyền ngày 27/12/2019.

2/ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre: Ông Nguyễn Hoàng Lanh - Kiểm sát viên.

NH N TH Y:

Ngày 19 tháng 6 năm 2019, Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số: 101/QĐ-UBND về áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn là ba tháng kể từ ngày ban hành quyết định đối với V Văn T do nghiện ma túy. Ngày 19/9/2019, Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre đã cấp Giấy chứng nhận số: 153/GCN-UBND xác nhận V Văn T đã chấp hành xong Quyết định số: 101/QĐ-UBND về áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Ngày 02/12/2019, V Văn T lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và theo Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre ngày 03/12/2019 thì V Văn T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Methamphetamine nên Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với V Văn T.

Ngày 16/12/2019, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Bến Tre có văn bản số: 449/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân huyện M Cày Nam, tỉnh Bến Tre áp dụng biện pháp xử lý hành chính: “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với V Văn T.

Tại phiên họp:

- Người đại diện hợp pháp của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Bến Tre đề nghị Tòa án nhân dân huyện M Cày Nam, tỉnh Bến Tre áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với V Văn T với thời hạn là từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng.

- Người bị đề nghị là V Văn T trình bày: Bản thân biết việc sử dụng trái phép chất ma túy là không đúng, vi phạm pháp luật, trong khoảng thời gian vừa qua, bản thân c ng đã cố gắng khắc phục để không sử dụng trái phép chất ma túy nữa và rất hối hận về hành vi của mình. Hiện nay hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, vợ đã b địa phương đi, một mình anh phải lo cho gia đình nên đề nghị được cai nghiện tự nguyện tại gia đình mà không phải vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M Cày Nam, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm: Trong quá trình thụ lý, giải quyết hồ sơ, Tòa án, Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại các điều 3, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 16, 17 và Điều 20 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu có trong hồ sơ, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M Cày Nam, tỉnh Bến Tre đề nghị Tòa án căn cứ vào các điều 95, 96, 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính; các điều 3, 17, 19, 20 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ, chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Bến Tre: p dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với V Văn T với thời hạn là 12 (mười hai) tháng.

X T TH Y:

Tại biên bản về việc sử dụng trái phép chất ma túy, tờ tường thuật, biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính, biên bản vi phạm hành chính, bản tường trình lập cùng ngày 03/12/2019 và tại phiên họp, V Văn T thừa nhận là vào ngày 02/12/2019 có sử dụng trái phép chất ma túy. Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre ngày 03/12/2019 thì V Văn T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Methamphetamine.

Trước đó, vào ngày 19/6/2019, V Văn T đã bị Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre áp dụng biện pháp giáo dục tại xã do nghiện ma túy với thời hạn là ba tháng đến ngày 19/9/2019 thì chấp hành xong quyết định và được cấp giấy chứng nhận, nhưng sau đó lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Trong khi đó, bản thân V Văn T là người đã thành niên, có nơi cư trú ổn định, theo quy tại khoản 1 Điều 3 của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ thì người nghiện ma túy từ đủ mười tám tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, trong thời hạn hai năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện thì bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với V Văn T là phù hợp với quy định tại các điều 96, 103, 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Ma túy đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức kh e con người, là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm. Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đã có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp nh m chặn đứng và đẩy lùi tệ nạn này, nhưng hiện nay tệ nạn này vẫn đang là mối quan tâm, lo lắng của toàn xã hội. Bản thân V Văn T nhận thức r việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, dẫn đến tình trạng nghiện; hành vi này không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến sức kh e, tinh thần, nhân cách của bản thân mà còn làm ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống bình thường của gia đình; c ng như làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bên cạnh đó, V Văn T không tự cai nghiện được và lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy; do vậy cần thiết phải có sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc nh m giúp V Văn T cai nghiện được để sống có ích cho gia đình, xã hội.

Sau khi thực hiện hành vi vi phạm, V Văn T đã thành thật hối l i, có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên xem xét để quyết định thời gian cai nghiện bắt buộc đối với V Văn T.

Vì các lẽ trên,

QUY T Đ NH:

1/ p dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với V Văn T.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3/ V Văn T có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Bến Tre có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện M Cày Nam, tỉnh Bến Tre có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4/ Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5/ Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Bến Tre phối hợp với Công an huyện C, tỉnh Bến Tre đưa người phải chấp hành quyết định (V Văn T) vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.

Cỡ chữ