vanban.org

Quyết định 31/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T, tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh P.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Phạm Văn T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động và Thương binh – Xã hội huyện BĐ có qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "cai nghien Pham Van T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T, tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh P.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 194 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 31/QĐ-TABù Đăng, ngày 26 tháng 6 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Điểu Thị Hạnh

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Hùng

Ngày 26 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 34/QĐ-TA, ngày 11 tháng 6 năm 2018. Đối với:

Họ và tên: Phạm Văn T; Sinh năm: 1996

Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ văn hóa: 9/12;

HKTT: thôn 8, xã M, huyện B, tỉnh P.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng lao động Thương Binh xã hội huyện B: ông Trần Minh Tuấn

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước: bà Mai Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Hành vi vi phạm của Phạm Văn T có trong các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ như sau:

Phạm Văn T bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy vào năm 2017. Loại ma túy mà T sử dụng là ma túy đá. Ngày 08/02/2018 Công an huyện B phối hợp với Công an xã M mời Phạm Văn T đến Công an xã làm việc, tiến hành thử test nước tiểu của Phạm Văn T cho kết quả dương tính với ma túy đá. Qua làm việc Phạm Văn T thừa nhận có sử dụng ma túy, loại ma túy Phạm Văn T sử dụng ma túy đá (amfetamin), sử dụng bằng hình thức hút.

Ngày 08/3//2018, Chủ tịch UBND xã M ra quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Phạm Văn T với thời gian 03 tháng.

Sau khi chấp hành thời gian giáo dục tại xã, Phạm Văn T không tiến bộ mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 04/5/2018 Phạm Văn T bị Công an huyện B phát hiện lập hồ sơ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 07/5/2018 UBND xã M ra quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Phạm Văn T.

Căn cứ vào Biên bản xét nghiệm chất ma túy và phiếu trả lời kết quả xác định người nghiện ma túy của Trạm y tế xã M về tình trạng hiện tại của Phạm Văn T đều xác định Phạm Văn T có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là ma túy đá. Tại Bản tường trình và Biên bản ghi lời khai ngày 04/5/2018 Phạm Văn T cũng thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy đá lần cuối cùng vào ngày 01/5/2018 bằng hình thức hút.

Ngày 07/5/2018, UBND xã M, huyện B, tỉnh P đã ban hành Quyết định số: 66/QĐ-UBND, Quyết định giao Phạm Văn T cho gia đình quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Công an huyện B đã thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (viết tắt là CSCNBB); Tại văn bản đề nghị số 131/CAH(MT) gửi Phòng tư pháp huyện B về việc kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.

Ngày 04/6/2018, Phòng tư pháp huyện B đã ban hành thông báo số: 36/TB-TP về việc kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đưa đối tượng vào CSCNBB và đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và xã hội chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB đối với Phạm Văn T.

Ngày 05/6/2018, Tòa án nhân dân huyện B nhận được công văn số 69/LĐTBXH-TN của Phòng lao động thương binh xã hội huyện B đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB đối với Phạm Văn T.

Tại phiên họp: Đại diện cho cơ quan đề nghị có ý kiến như sau: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào CSCNBB đối với đối tượng Phạm Văn T vào Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh P với thời hạn 24 tháng.

Tại phiên họp người bị đề nghị Phạm Văn T vắng mặt tại phiên họp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B có ý kiến như sau: Thẩm phán tuân theo đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB đối với Phạm Văn T và đề nghị đưa Phạm Văn T vào cơ CSCNBB với thời hạn là 24 tháng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc, căn cứ vào ý kiến trình bày của người bị đề nghị, cơ quan đề nghị và những người tham gia phiên họp khác.

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền: Đối tượng Phạm Văn T có HKTT và cư trú tại: thôn 8, xã M, huyện B, tỉnh P. Căn cứ Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biên pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính (viết tắt là luật XLVPHC) thì việc quyết định đưa vào cơ CSCNBB đối với Phạm Văn T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh P.

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB đã đầy đủ và đúng thẩm quyền lập hồ sơ cũng như trình tự, thủ tục lập hồ sơ theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật XLVPHC năm 2012 và Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào CSCNBB.

Đối tượng Phạm Văn T có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hành chính, có nơi cư trú ổn định tại: thôn 8, xã M, huyện B, tỉnh P. Ngày 08/3/2018, Phạm Văn T đã bị Chủ tịch UBND xã MH ra quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn thời gian 03 tháng. Sau khi chấp hành xong thời gian giáo dục, Phạm Văn T không có tiến bộ mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 04/5/2018 bị Công an huyện BĐ phát hiện lập hồ sơ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ vào Biên bản xét nghiệm chất ma túy và phiếu trả lời kết quả xác định người nghiện ma túy của Trạm y tế xã M về tình trạng hiện tại của Phạm Văn T đều xác định Phạm Văn T có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là ma túy đá; Tại Bản tường trình và Biên bản ghi lời khai ngày 04/5/2018 đối tượng Phạm Văn T cũng thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối cùng là ngày 01/5/2018, do đó có cơ sở xác Phạm Văn T thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB và vẫn còn trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96, điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật XLVPHC và Điều 3, điều 4 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Văn T đã vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội quy định tại Điều 21 khoản 1 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương và là tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần xem xét áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB đối với Phạm Văn T là cần thiết.

Từ những nhận định nêu trên và đề nghị của Phòng lao động thương binh xã hội huyện B, những người tham gia tố tụng khác. Xét thấy cần áp dụng biện pháp đưa vào CSCNBB đối với Phạm Văn T là đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 96; Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 105; khoản 2 Điều 194 Luật xử lý vi phạm hành chính.

- Căn cứ Điều 3; Điều 4; Điều 9 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

- Căn cứ Điều 3 pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T, tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh P.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Phạm Văn T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động và Thương binh – Xã hội huyện BĐ có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện B có quyền kháng nghị. Nếu người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện B, tỉnh P phối hợp với Phòng Lao động và Thương binh – Xã hội huyện B.

Cỡ chữ