vanban.org

Quyết định 31/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Triết N. Cho chị Phạm Thị Triết N được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Phạm Minh A, sinh ngày 24/12/2019 cho chị Phạm Thị Triết N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phạm Thị Triết N không tranh chấp với anh Nguyễn Hoàng T nên Tòa án không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Triết N. Cho chị Phạm Thị Triết N được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 9 - 2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chí Điền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thạch Khuôl.

2. Bà Trần Thị Thúy Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Trí - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 90/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Triết N, sinh năm 1998 (vắng có đơn).

Địa chỉ: Ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 2, xã T, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện (BL 02) và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Phạm Thị Triết N trình bày: Chị với anh Nguyễn Hoàng T chung sống với nhau vào năm 2018 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long nay là xã H, tỉnh Vĩnh Long. Quá trình chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Phạm Minh A, sinh ngày 24/12/2019 hiện đang do chị nuôi dưỡng. Nguyên nhân mâu thuẫn là khoảng tháng 5/2022 do nuôi vịt bị lỗ nên hai vợ chồng cự cãi với cha mẹ ruột của anh T. Sau đó thì chị và anh T về bên nhà cha mẹ ruột của chị để ở, thời gian này anh T làm vườn, chở hạt điều thuê…Đến khoảng cuối năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, anh T đi làm có thu thập nhưng mỗi lần chỉ đưa cho chị 200.000 đồng đến 500.000 đồng mỗi tháng không đủ chi tiêu sinh hoạt trong gia đình. Vợ chồng có nhiều lần nói chuyện với nhau nhưng anh T vẫn không sửa đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng thêm, thường xuyên cự cãi với nhau. Sau đó đến tháng 8/2024 anh T bỏ về nhà mẹ ruột ở cho đến nay không còn quan tâm gì đến vợ con nữa, hai vợ chồng cũng không còn liên lạc gì với nhau nữa. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Phạm Minh A mà không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị không tranh chấp với anh T.

Về nợ chung: Chị không tranh chấp với anh T.

Anh Nguyễn Hoàng T vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.

Tại phiên tòa:

Tất cả các đương sự vắng mặt, không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào mới và cũng không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm ai tham gia tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long phát biểu quan điểm:

Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Triết N. Cho chị Nhi được ly hôn với anh T. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Phạm Minh A cho chị Nhi được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục mà anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về chia tài sản chung: Chị Nhi không tranh chấp với anh T nên đề nghị không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Chị Nhi không tranh chấp với anh T nên đề nghị không xem xét giải quyết. Ngoài ra, còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý về án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện, lời trình bày của đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định quan hệ pháp luật vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1, Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn là anh Nguyễn Hoàng T có địa chỉ cư trú tại xã Tam Ngãi, tỉnh Vĩnh Long nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho anh Nguyễn Hoàng T được Trưởng ban nhân dân ấp 2, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh nay là ấp 2, xã T, tỉnh Vĩnh Long và mẹ ruột của anh T là bà Hồ Thị Hồng T nhận và đã thông báo lại cho anh T biết. Tuy nhiên anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay là lần thứ hai và chị Phạm Thị Triết N có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Nhi và anh T.

Về nội dung:

Xét thấy, theo lời khai của chị Phạm Thị Triết N và hồ sơ thể hiện chị và anh Nguyễn Hoàng T chung sống với nhau vào năm 2018 có đăng ký kết hôn (BL 04) nên được xem là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng chăn nuôi vịt bị thua lỗ nên dẫn đến mâu thuẫn cự cãi ngày càng trầm trọng với nhau. Vì vậy hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2024 cho đến nay.

Tòa án tiến hành xác minh đối với bà Hồ Thị Hồng T là mẹ ruột của anh T thì được biết: “…Hiện tại hai vợ chồng T và N đã không còn chung sống với nhau khoảng 01 năm nay, T đi làm thuê còn N đã về nhà mẹ ruột ở hơn 03 năm nay…Thời gian đầu sau khi cưới thì hai vợ chồng T và N chung sống với tôi do N là con dâu út của tôi, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau hai vợ chồng bắt đầu cự cãi với nhau trong việc chăn nuôi vịt bị lỗ, tôi có nhiều lần đứng ra hòa giải nhưng không có kết quả tốt vì vậy khoảng năm 2023 N đã bỏ về nhà mẹ ruột ở cho đến nay, hiện nay hai đứa mạnh ai nấy sống…Từ khi hai đứa nó cự cải và không còn chung sống với nhau thì gia đình sui gia cũng không có tới lui hay liên lạc gì với nhau nữa. Tôi cũng không biết T và N có thể tiếp tục chung sống với nhau được hay không nữa, tùy do Tòa án quyết định” (BL 41).

Tòa án tiến hành xác minh đối với chính quyền địa phương nơi cư trú của chị N và anh T chung sống trước đây thì được biết hai mâu thuẫn vợ chồng đúng như lời trình bày của chị Nhi (BL 40).

Tòa án đã nhiều lần mời chị N và anh T đến Tòa án để hòa giải nhằm động viên hàn gắn gia đình nhưng anh T đều vắng mặt không rõ lý do. Vấn đề này thấy rằng anh T đã bỏ mặc hôn nhân của mình và tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hội đồng xét xử sẽ xem xét việc yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh T.

Về con chung: Quá trình chung sống chị N và anh T có 01 con chung Nguyễn Phạm Minh A hiện do chị N nuôi dưỡng. Quá trình tố tụng chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Phạm Minh A. Vấn đề này thấy rằng, từ trước đến nay cháu Nguyễn Phạm Minh A do chị N nuôi dưỡng nuôi dưỡng vẫn đảm bảo phát triển tốt về mọi mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Phạm Minh A cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị Triết N không tranh chấp với anh Nguyễn Hoàng T nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về chia tài sản chung: Chị Phạm Thị Triết N không tranh chấp với anh Nguyễn Hoàng T nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Phạm Thị Triết N không tranh chấp với anh Nguyễn Hoàng T nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị Triết N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Dành cho anh Nguyễn Hoàng T một vụ kiện khác để yêu cầu thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn, chia tài sản chung và nợ chung với chị Phạm Thị Triết N khi có yêu cầu.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Tòa án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên được chấp nhận.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 227, 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Triết N. Cho chị Phạm Thị Triết N được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Phạm Minh A, sinh ngày 24/12/2019 cho chị Phạm Thị Triết N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phạm Thị Triết N không tranh chấp với anh Nguyễn Hoàng T nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về chia tài sản chung: Chị Phạm Thị Triết N không tranh chấp với anh Nguyễn Hoàng T nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Phạm Thị Triết N không tranh chấp với anh Nguyễn Hoàng T nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Dành cho anh Nguyễn Hoàng T một vụ kiện khác để yêu cầu thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn, chia tài sản chung và nợ chung với chị Phạm Thị Triết N khi có yêu cầu.

Về án phí: Chị Phạm Thị Triết N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0009052 ngày 11/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Vĩnh Long. Chị Phạm Thị Triết N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Chị Phạm Thị Triết N và anh Nguyễn Hoàng T được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Vĩnh Long;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện KSND khu vực 12 - Vĩnh Long;

- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;

- UBND xã H;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Dương Chí Điền

Cỡ chữ