vanban.org

Quyết định 31/2021/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 15/07/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Quang T và chị Nguyễn Thị H L.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giao con chung Nguyễn Quang Anh, sinh ngày 06/6/2017 cho chị Nguyễn Thị H L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng tHnh (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi về quyền nuôi con. (Trong thời gian chị Nguyễn T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Quang T và chị Nguyễn Thị H L.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 35 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH H TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 31/2021/QĐST-HNGĐH Tĩnh, ngày 15 tháng 7 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH H TĨNH

THnh phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn H Ngân - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà H Thị Vân Nga

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh H Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Thanh Hiền– Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh H Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 49/2021/TLST-HNGĐ, ngày 11/5/2021 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, theo Quyết định mở phiên họp số 42/2021/QĐ-TA ngày 02 tháng 7 năm 2021 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

1. Anh Nguyễn Quang T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số 16, ngõ 02, đường Bi, tỉnh Q(Có đơn xin giải quyết vắng mặt)

2. Chị Nguyễn Thị H L, sinh năm 1994; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: PH H, tHnh P, tỉnh H Tĩnh. Hiện đang lao động tại nước Hungary (Có đơn xin giải quyết vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thị H L: Bà Đậu Thị H, sinh năm: 1972; Địa chỉ: Số 154; đường N, tp H, tỉnh H Tĩnh (Có mặt).

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con và tài sản có tại hồ sơ, anh Nguyễn Quang T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H L kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân PH H, tHnh P, tỉnh H Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2018, thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do giữa hai bên tính tình không hợp nên tH xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống hết sức nặng nề. Năm 2019, chị Nguyễn Thị H L xuất khẩu lao động ở Hungary, vợ chồng không còn liên lạc và cũng ly thân từ đó đến nay. Hiện tại, hai bên nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã hết sức trầm trọng, mục đich hôn nhân không đạt được nên thống nhất thuận tình ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Quang Anh, sinh ngày 06/6/2017. Hai bên thỏa thuận thống nhất giao con chung cho chị Nguyễn Thị H L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng tHnh. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do điều kiện công tác ở xa, diễn biến dịch bệnh covid 19 đang ngày càng phức tạp nên anh Nguyễn Quang T đã có đơn xin giải quyết vắng mặt nộp tại hồ sơ.

Chị Nguyễn Thị H L trình bày bằng văn bản có nội dung giống trình bày của anh Nguyễn Quang T về quan hệ hôn nhân, con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cũng như không yêu cầu tài sản chung. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên chị có đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn với anh Nguyễn Quang T. Ngoài ra, do điều kiện công việc nên chị yêu cầu được xét xử vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết việc ly hôn và ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho bà Đậu Thị H.

Đại diện VKSND tỉnh H Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp Hnh pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Tòa án nhân dân tỉnh H Tĩnh nhận định:

Thủ tục tố tụng:

Chị Nguyễn Thị H L hiện cư trú tại Hungary, có xác nhận của Cục quản lý xuất nhập cảnh, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh H Tĩnh theo quy định tại Điều 29, Điều 37, Điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015. Anh Nguyễn Quang T và chị Nguyễn Thị H L đều có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ việc. Chị Nguyễn Thị H L đã ủy quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho bà Đậu Thị H. Căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến Hnh mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt chị L theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Quang T và chị Nguyễn Thị H L có đủ các điều kiện kết hôn; thực hiện việc đăng ký kết hôn hợp lệ vào ngày 13 tháng 01 năm 2017 ở Ủy ban nhân dân PH H, tHnh P, tỉnh H Tĩnh. Căn cứ quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 khẳng định hôn nhân của anh T chị L là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng anh T, chị L chung sống hạnh phúc được khoảng một năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do giữa hai bên không hợp tính cách, dẫn đến tH xuyên xảy ra cãi vã, không tôn trọng lẫn nhau. Tình cảm vợ chồng vì vậy phai nhạt dần. Đến năm 2019, chị L đi xuất khẩu lao động nước ngoài, hai người không còn liên hệ và cũng ly thân từ đó đến nay. Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng anh T, chị L đã hết sức trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Các đương sự cũng đồng thuận đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Đối chiếu các quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 việc công nhận yêu cầu thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Quang T và chị Nguyễn Thị H L là phù hợp.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung cháu Nguyễn Quang Anh, sinh ngày 06/6/2017. Xét thấy, các đương sự đều có nguyện vọng thống nhất giao con chung cho chị Nguyễn Thị H L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng tHnh, anh Nguyễn Quang T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại, chị Nguyễn Thị H L đang ở nước ngoài, do tình hình diễn biến phức tạp của đại dịch covid 19, chưa thể về nước để chăm sóc nuôi dưỡng con chung; Bà Đậu Thị H, mẹ đẻ của chị L, từ khi hai vợ chồng chị L ly thân đến nay là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Anh đã đảm bảo mọi điều kiện cho cháu ăn học đầy đủ, phát triển ổn định có xác nhận của chính quyền địa phương; Mặt khác bà Đậu Thị H cũng đã có cam kết sẽ tiếp tục chịu trách nhiệm đảm bảo việc trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Anh cho đến khi chị L về nước. Vì vậy, cần công nhận sự tự nguyện thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con và trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con của các bên. Đồng thời, trong thời gian chị L chưa thể về nước cần tiếp tục tạm giao cháu Anh cho bà Đậu Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu thay chị L là phù hợp.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 29; Điểm b, khoản 1 điều 37; Điều 39; Điều 149; Các Điều 361, 367, 369, 370, 371 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 51, 55, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Các Điều 35, 36, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

1. Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Quang T và chị Nguyễn Thị H L.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giao con chung Nguyễn Quang Anh, sinh ngày 06/6/2017 cho chị Nguyễn Thị H L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng tHnh (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi về quyền nuôi con. (Trong thời gian chị Nguyễn Thị H L đang ở nước ngoài, bà Đậu Thị H có trách nhiệm đảm nhận việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Anh thay chị L đến khi chị L về nước). Anh Nguyễn Quang T không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của anh Nguyễn Quang T(đã nộp 300.000đ tại biên lai số 0000174 ngày 11/5/2021 tại Cục thi Hnh án Dân sự tỉnh H Tĩnh).

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.

5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.

Cỡ chữ