- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án xin ly hôn do mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Phạm Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2021/HNGĐ-ST Ngày 25-5-2021 V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Vinh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tâm;
- Bà Phạm Thị Khanh;
-Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 393/2020/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2020 về việc “ly hôn và tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2021/QĐST - HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H; trú tại: Thôn V Ph, xã Đ Th, huyện A D, thành phố Hải Phòng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Phạm Văn Đ; trú tại: Thôn A L, xã A H, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Đỗ Thị H trình bày: Chị và anh Phạm Văn Đ kết hôn với nhau tự nguyện tại Uỷ ban nhân dân xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng vào ngày 20 tháng 10 năm 2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Đ chơi bời, nợ nần. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình động viên khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 7 năm 2019, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn Đ.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Đỗ Bảo An, sinh ngày 27-01-2015. Hiện nay đang ở với chị H. Nếu ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chị xin tự giải quyết với anh Đ.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có.
Bị đơn anh Phạm Văn Đ hiện cư trú tại thôn A L, xã A H, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Anh Đ đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án hợp lệ, tuy nhiên anh Đ không nộp bản tự khai và cố tình không đến Tòa án để làm việc. Tòa án đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ: Xác minh nơi cư trú của anh Phạm Văn Đ, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh Đ qua chính quyền địa phương và qua người làm chứng.
Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập chứng cứ cũng như các hoạt động tố tụng khác. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm yêu cầu của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ và các hoạt động tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn chấp hành chưa nghiêm. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn với anh Phạm Văn Đ. Về con chung: Giao con chung Phạm Đỗ Bảo An, sinh ngày 27-01-2015 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị tự giải quyết. Tài sản chung không xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Anh Phạm Văn Đ có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã A H, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa chị Đỗ Thị H và anh Phạm Văn Đ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Chị Đỗ Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Phạm Văn Đ hai lần vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Đỗ Thị H và anh Phạm Văn Đ.
. Về quan hệ vợ chồng: Quan hệ vợ chồng giữa chị Đỗ Thị H và anh Phạm Văn Đ phát sinh từ ngày 20-10-2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đ không quan tâm đến gia đình. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H yêu cầu được ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án anh Đ không khai báo, không tham gia các hoạt động tố tụng của Tòa án. Qua xác minh tại địa phương thấy vợ chồng có mâu thuẫn. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2019, không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó có căn cứ để xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn với anh Phạm Văn Đ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Đỗ Bảo An, sinh ngày 27-01-2015. Ly hôn, chị H đề nghị giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không có quan điểm về con. Tòa xét, con chung Phạm Đỗ Bảo An đang ở với chị H được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Chị H có chỗ ở và thu nhập ổn định. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu giải quyết về con của chị H là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên tự giải quyết.
.Về tài sản chung: Không xét giải quyết.
. Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu án phí sơ thẩm dân sự về ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình,
Căn cứ Điều 147, 228, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Phạm Văn Đ.
2. Về con chung: Giao con chung Phạm Đỗ Bảo An, sinh ngày 27-01-2015 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh chị tự giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Không xét giải quyết.
4. Án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Chị H đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ tại Biên lai thu số 17451 ngày 22-12-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo. Chị H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện Vĩnh Bảo; - THADS huyện Vĩnh Bảo; - UBND xã An Hòa, Vĩnh Bảo, Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Văn Vinh |