- Tranh chấp gì? "Lợi"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Văn L, sinh năm 1988;
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAI TỪ TỈNH T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 31/2019/QĐ-TA | Đ, ngày 03 tháng 7 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP
XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NG
HIỆN BẮT BUỘC
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH T
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Hồng Mây - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Xuân Mừng - Thư ký
Ngày 03/7/2019, tại Tòa án nhân dân huyện Đ tỉnh T tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 34/2019/QĐ-TA ngày 20/6/2019 đối với:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1988
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm La Lang, xã C, huyện Đ, tỉnh T
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;
Trình độ văn hóa: 11/12. Nghề nghiệp: Làm ruộng;
Con ông: Nguyễn Văn Q và bà Lương Thị H.
Tiền án: Không. Tiền sự: Không
Nhân thân: Tại quyết định số 21/QĐ-UBND ngày 25/3/2019 của UBND xã C về việc áp dụng giáo dục tại xã C đối với Nguyễn Văn L, thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 25/3/2019 đến ngày 25/6/2019 với hình thức cai nghiện là quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình.
Quyết định số 46/QĐ-UBND ngày 21/5/2019 của UBND xã C về việc chấm dứt việc áp dụng giáo dục tại xã C đối với Nguyễn Văn L với lý do trong quá trình áp dụng biện pháp giáo dục tại xã L vẫn sử dụng trái phép chất ma túy. (có mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
Đại diện cơ quan đề nghị:
Ông Nguyễn Quân A - Chuyên viên phòng TB&XH huyện Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ:
Bà Nguyễn Như H - kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Văn L là đối tượng nghiện ma túy cư trú tại xóm L, xã C, huyện Đ, tỉnh T. Quá trình sinh sống tại địa phương, L đã có nhân thân như nêu trên.
Trong khi chấp hành thời gian quản lý cai nghiện tự nguyện tại gia đình, ngày 17/5/2019 Công an xã C đã phối hợp cùng trạm Y tế xã xét nghiệm ma túy tại chỗ đối với L bằng que thử nước tiểu, kết quả xét nghiệm là dương tính.
Trạm y tế xã C đã lập phiếu theo dõi xác định tình trạng nghiện ma túy đối với L trong 3 ngày. Tại phiếu trả lời kết quả xét nghiệm ma túy ngày 21/5/2019 của trạm y tế xã C xác định Nguyễn Văn L có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Heroine”.
Bản thân L cũng thừa nhận thường xuyên sử dụng ma túy loại Heroine, hình thức sử dụng là chích. Ngày 17/5/2019, L chích lần sau cùng sau đó bị Công an xã và trạm y tế xã yêu cầu thử nước tiểu, kết quả xét nghiệm là dương tính như nêu trên..
Ngày 27/5/2019 UBND xã C, huyện Đ có công văn số 68/UBND đề nghị Phòng Tư pháp huyện Đ thẩm định tính pháp lý của hồ sơ cai nghiện bắt buộc.
Tại thông báo số 33/TB-TP ngày 31/5/2019, phòng Tư pháp huyện Đ đã kết luận hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn L đảm bảo tính pháp lý đúng theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/6/2019, Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện Đ có công văn số 106/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L, thời hạn là 18 tháng.
Tại phiên họp hôm nay, vị Đại diện VKSND huyện Đ phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Tòa án trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Tòa án đã thụ lý và giải quyết theo đúng trình tự của pháp lệnh trình tự, thủ tục, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Thẩm phán, thư ký phiên họp và những người tham gia phiên họp luôn chấp
hành đúng theo trình tự pháp lệnh và quy định của pháp luật.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn L đủ điều kiện, đề nghị Tòa án ấn định thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L từ 15 đến 18 tháng.
XÉT THẤY:
Xét Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn L đảm bảo đúng quy định tại Điều 9 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.
Xét tính chất mức độ, hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và nhân thân của Nguyễn Văn L thấy rằng L xuất thân từ gia đình thuần nông lương thiện nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân đi vào con đường nghiện ngập ma túy. Tại địa phương đã tạo điều kiện cho L được cai nghiện tại gia đình. Đang trong thời gian cai nghiện tuy không bắt quả tang L sử dụng ma túy nhưng xét nghiệm nhanh ma túy qua nước tiểu, kết quả xác định L dương tính với chất ma túy. Bản thân L thừa nhận có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Heroin và hình thức sử dụng là chích.
Xét nên chấp nhận lời đề nghị của Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L.
Khi ấn định thời gian đưa vào cơ sở cai nghiện, L không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành thật hối lỗi, tự nguyện khai báo theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do vậy mức đề nghị của Phòng Lao động thương binh và Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ là phù hợp nên chấp nhận. Bởi các lẽ trên:
Căn cứ Điều 9, Điều 10, Điều 95, Điều 96, Điều 105, Điều 106 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 20, Điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 quy định về trình tự, tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Văn L, sinh năm 1988;
Nơi ĐKHKTT: Xóm La Lang, xã C, huyện Đ, tỉnh T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ Nguyễn Văn L bị tạm giữ để đưa đi cai nghiện bắt buộc.
Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở tư vấn và điều trị, cai nghiện ma túy
tỉnh T. Địa chỉ: Tổ 8, phường Thịnh Đán, thành phố T, tỉnh T.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị được thực hiện theo quy định tại Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, ngày 20/02/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại,
kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Đ chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đ đưa người đi thi hành Quyết định; Cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh T tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Phòng LĐTBXH huyện Đ; - Phòng Tư pháp huyện Đ - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - UBND xã C. - Người bị đề nghị; - Cơ sơ Tư vấn ĐTCNMT tỉnh T - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN NGUYỄN HỒNG MÂY |