- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "xét kháng cáo quyết định đình chỉ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TÌNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 31/2019/QĐ-PT | Bình Dương, ngày 01 tháng 11 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Trúc
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tài
Bà Ngô Thị Bích Diệp
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Đặng Hà Nhung – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 94/2019/QĐST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã căn cứ vào Điều 217, 218, 219 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 159/2018/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2018 về “tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa:
- Nguyên đơn: Ông Phan Văn H, sinh năm 1964; địa chỉ: Khu phố 1, phường T, thị xã B, tỉnh B.
Ông Ha ủy quyền cho ông Lê Huy B, sinh năm 1959; địa chỉ: Khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh B (theo hợp đồng ủy quyền ngày 08/5/2018).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1982; địa chỉ: Đường Nguyễn Văn T, phường 8, quận P, Thành phố H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển C; địa chỉ: Phường H, thành phố T, tỉnh B.
Tại đơn kháng cáo ngày 12 tháng 8 năm 2019 của bị đơn ông Phan Văn H kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 94/2019/QĐST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát với lý do không nhận được giấy triệu tập của Tòa án, quyết định đình chỉ không đề cập giải quyết chi phí đo đạc, định giá mà nguyên đơn đã nộp nên việc Tòa án ban hành quyết định đình chỉ là không khách quan, làm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị thiệt hại.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp phúc thẩm phát biểu ý kiến: Việc Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành niêm yết cho nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là không đúng quy định tại Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chưa giải quyết chi phí tố tụng trong quyết định đình chỉ là không đúng. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 94/2019/QĐST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
XÉT THẤY:
Ông Phan Văn H khởi kiện ông Nguyễn Xuân T yêu cầu buộc Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển C trả lại tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 7.000m2 tại phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; buộc ông Nguyễn Xuân T trả lại quyền sử dụng đất có diện tích 150m2 thuộc thửa 3283, tờ bản đồ 20, khu tái định cư Mỹ Phước; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 952118 cấp cho ông T.
Ông Phan Văn H ủy quyền cho ông Lê Huy B tham gia tố tụng. Tại hợp đồng ủy quyền ngày 08/5/2018, ghi thông tin địa chỉ thường trú của ông Phan Văn H là khu phố 1, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương và địa chỉ cư trú của ông Lê Huy B là số 2/43 Thọ Lạc, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Ngoài ra, quá trình làm việc, ông Bình cung cấp thêm địa chỉ liên hệ của ông B là khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát đã thông báo về phiên hòa giải vào các ngày 06/6/2019, 01/7/2019 và tiến hành niêm yết các thông báo về phiên hòa giải, triệu tập ông H, ông B vào các ngày 20/5/2019 và 12/6/2019 tại địa chỉ thường trú của ông Phan Văn H là khu phố 1, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương và địa chỉ liên hệ của ông B là khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Lý do niêm yết: Do ông B, ông H không có mặt ở nhà, không có ai nhận thay.
Ngày 01/7/2019, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát đã ban hành Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án số 94/2019/QĐST-DS với lý do người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Văn H là ông Lê Huy B đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt không có lý do theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 12/8/2019, ông Phan Văn H và ông Lê Huy B có đơn kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 94/2019/QĐST-DS với lý do: Chưa nhận được thông báo triệu tập trực tiếp hay thông qua thừa phát lại; việc đình chỉ đã tước bỏ quyền làm đơn yêu cầu độc lập của bà O; ông H đã nộp 10.000.000 đồng tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nhưng không được đề cập giải quyết trong quyết định đình chỉ.
Xét thấy, tại khoản 5 Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt thì người thực hiện thông báo phải lập biên bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc để thực hiện việc ký nhận hoặc điểm chỉ và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt, thông báo.
Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt ở nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ nơi cư trú mới của họ thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo, có xác nhận của của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn; đồng thời thực hiện thủ tục niêm yết công khai văn bản cần tống đạt theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật này.”
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện đúng quy định trên, trong hồ sơ vụ án không có văn bản, tài liệu nào xác định ông H, ông B vắng mặt tại nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ nơi cư trú mới của họ để thực hiện thủ tục niêm yết theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự mà chỉ xác định ông B không có ở nhà, không có ai nhận thay. Đồng thời, tại phần quyết định của quyết định đình chỉ nêu trên, không ghi đầy đủ người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị O, Ủy ban nhân dân thị xã Bến Cát; không xử lý các vấn đề liên quan đến chi phí tố tụng, đã làm ảnh hưởng đến quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định tại Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Từ những nhận định nêu trên, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Phan Văn H. Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp.
Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu.
Căn cứ Điều 148, điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Văn H.
Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 94/2019/QĐST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Trả cho ông Phan Văn H 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0038439 ngày 12 tháng 8 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Bình Dương.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; - TAND thị xã Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Các đương sự; - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự. CÁC THẨM PHÁN Nguyễn Văn Tài Ngô Thị Bích Diệp | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Thị Thanh Trúc THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Thị Thanh Trúc |