vanban.org

Quyết định 309/2023/QĐ-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/03/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị M.

1 Tuyên bố bà Trần Thị S, sinh năm 1945; Nơi cư trú cuối cùng tại 292/17 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết. Ngày chết được xác định là ngày 02/01/1986. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Việc dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 309/2023/QĐST-VDSBình Thạnh, ngày 06 tháng 3 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngoan - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Đỗ Lê Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 0547/2022/TLST-VDS ngày 30 tháng 03 năm 2022 về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp số 37/2023/QĐ-MPH ngày 20 tháng 02 năm 2023.

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1944

Địa chỉ: 292/17 đường XVNT, Phường O, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Tăng Thành P

Địa chỉ: Ấp B, xã TL, huyện K, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ VIỆC

Theo Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự nhận ngày 16/3/2022 và Đơn bổ sung yêu cầu ngày 05/7/2022 và tại các bản tự khai, bà Nguyễn Thị M trình bày:

Bà và ông Tăng Văn N (sinh năm 1944, chết ngày 15/3/2009) là vợ chồng hợp pháp, ông bà tổ chức tiệc cưới vào ngày 26/5/1966 và sau đó có đăng ký kết hôn tại xã An Lập Phú, quận An Lộc, tỉnh Bình Long theo Giấy chứng nhận kết hôn số 139 cấp ngày 17/10/1969.

Qua Công văn số 2010/CAQ-QLHC ngày 09/6/2022 của Công an quận Bình Thạnh trả lời xác minh liên quan đến nhân thân của ông Tăng Văn Nh cho Toà án nhân dân quận Bình Thạnh thì bà mới biết là trước đây tại nhà số 292/17 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh thì ngoài bà và ông Nh còn có 01 người vợ trước và 04 người con riêng của ông Nh có tên dưới đây sinh sống gồm:

1/ Bà Trần Thị S, sinh năm 1945

2/ Bà Tăng Thị Thanh T, sinh năm 1967

3/ Ông Tăng Thành T1, sinh năm 1969

4/ Ông Tăng Thành T2, sinh năm 1973

5/ Ông Tăng Thành T3, sinh năm 1974

Từ ngày về làm vợ ông Tăng Văn Nh đến nay, bà hoàn toàn không biết ông Tăng Văn Nh và bà Trần Thị S có 04 người con chung là Tăng Thị Thanh T (sinh năm 1967), Tăng Thành T1 (sinh năm 1969), Tăng Thành T2 (sinh năm 1973) và Tăng Thanh T3 (sinh năm 1974) cùng sinh sống tại nhà số 292/17 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1967. Ngoài ra, bà được hàng xóm cho biết lúc bỏ nhà đi các ông/bà Tăng Thị Thanh T, ông Tăng Thành T1, ông Tăng Thành T2 và ông Tăng Thành T3 chưa lập gia đình, không có vợ, chồng và con cái.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tăng Thành P trình bày: Ông P là con riêng của ông Tăng Văn N và bà Nguyễn Thị Hồng N (mất ngày 27/9/2012). Vào tháng 8/2014 ông có dọn về ở chung với bà Nguyễn Thị M tại địa chỉ nhà số 292/17 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay bà M làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố các ông bà: Trần Thị S, Tăng Thị Thanh T, Tăng Thành T1, Tăng Thành T2, Tăng Thành T3 là đã chết thì ông cũng đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết theo luật định.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Yêu cầu của bà Nguyễn Thị M là có cơ sở, nên đề nghị Tòa án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị M và ông Tăng Thành P có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp theo quy định.

[2] Về quan hệ và thẩm quyền giải quyết:

Theo đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị M yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết. Căn cứ khoản 4 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là quan hệ về dân sự và là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Xét:

Căn cứ vào Công văn số 2010/CAQ-QLHC ngày 09/6/2022 của Công an quận Bình Thạnh trả lời xác minh liên quan đến nhân thân của ông Tăng Văn N cho Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, thì: Căn cứ vào hồ sơ lưu số 26920-000457 tại Công an quận Bình Thạnh, gốm Giấy chứng nhận nhân khẩu thường trú số 272/K26 ký ngày 01/10/1976; Bản khai nhân khẩu (NK1) của ông Tăng Văn N ngày 21/9/1976; Sổ hộ khẩu gia đình (NK3a) thì tại địa chỉ số 292/17 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 25, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh thể hiện tên các nhân khẩu sau: Trần Thị S (1945) chủ hộ; Tăng Văn N (1941) chồng; Tăng Kim H (1950) em chồng; Tăng Thị Thanh T (1967) con; Tăng Thành T1 (1969) con; Tăng Thành T2 (1973) con; Tăng Thành Tâm (1974) con.

Căn cứ kết quả trả lời xác minh ngày 19/9/2022 của Công an Phường 25, quận Bình Thạnh xác nhận: “Các ông bà có tên gồm: Trần Thị S sinh 1945, Tăng Thị Thanh T sinh 1967, Tăng Thành T1 sinh 1969, Tăng Thành T2 sinh 1973, Tăng Thành T3 sinh 1974 trước đây có hộ khẩu thường trú tại số 292/17 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 25, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh; Đến năm 1980 các nhân khẩu trên bỏ đi đâu không rõ địa chỉ nơi đến; Hiện nay các nhân khẩu trên cũng không thực tế cư trú tại địa phương và không có thông tin trong dữ liệu dân cư quốc gia.”

Bà Nguyễn Thị M và gia đình đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định tại Điều 384, 385, 388 của Bộ luật tố tụng dân sự như đăng báo Lao động trong 03 số liên tiếp vào các ngày 29, 30 tháng 9 và ngày 01 tháng 10 năm 2022, Đài tiếng nói Việt Nam trong 03 ngày liên tiếp là 10, 11, 12 tháng 10 năm 2022 và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhưng vẫn không có tin tức xác thực là các ông, bà Trần Thị S, sinh năm 1945; bà Tăng Thị Thanh T, sinh năm 1967; ông Tăng Thành T1, sinh năm 1969; ông Tăng Thành T2, sinh năm 1973 và ông Tăng Thành T3, sinh năm 1974 còn sống hay đã chết.

[3.2] Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015, thì người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp: Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Đối chiếu với trường hợp nêu trên, xét thấy các ông/bà Trần Thị S sinh 1945, Tăng Thị Thanh T sinh 1967, Tăng Thành T1 sinh 1969, Tăng Thành T2 sinh 1973, Tăng Thành T3 sinh 1974 đã không cư ngụ tại địa phương từ năm 1980 cho đến nay, nên bà Nguyễn Thị M có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố các ông/bà Trần Thị S sinh 1945, Tăng Thị Thanh T sinh 1967, Tăng Thành T1 sinh 1969, Tăng Thành T2 sinh 1973, Tăng Thành T3 sinh 1974 là đã chết, là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật, nên chấp nhận.

Do thời gian biết được tin tức cuối cùng của các ông/bà Trần Thị S sinh 1945, Tăng Thị Thanh T sinh 1967, Tăng Thành T1 sinh 1969, Tăng Thành T2 sinh 1973, Tăng Thành T3 sinh 1974 là ngày 01 tháng 01 năm 1981 và kể từ ngày có tin tức cuối cùng cho đến nay cũng không có tin tức xác thực là các ông bà có tên trên là còn sống. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự, ngày chết pháp lý của các ông/bà Trần Thị S sinh 1945, Tăng Thị Thanh T sinh 1967, Tăng Thành T1 sinh 1969, Tăng Thành T2 sinh 1973, Tăng Thành T3 sinh 1974 là ngày 01 tháng 01 năm 1981 được xác định là ngày 02 tháng 01 năm 1986.

[4] Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1944, Căn cứ quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị M không phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo trường hợp người cao tuổi.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015; Các điều 371, 372, 391 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1.Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị M.

1.1 Tuyên bố bà Trần Thị S, sinh năm 1945; Nơi cư trú cuối cùng tại 292/17 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

Ngày chết được xác định là ngày 02/01/1986.

1.2 Tuyên bố bà Tăng Thị Thanh T, sinh năm 1967; Nơi cư trú cuối cùng tại 292/17 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

Ngày chết được xác định là ngày 02/01/1986.

1.3 Tuyên bố ông Tăng Thành T1, sinh năm 1969; Nơi cư trú cuối cùng tại 292/17 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

Ngày chết được xác định là ngày 02/01/1986.

1.4 Tuyên bố ông Tăng Thành T2, sinh năm 1973; Nơi cư trú cuối cùng tại 292/17 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

Ngày chết được xác định là ngày 02/01/1986.

1.5 Tuyên bố ông Tăng Thành T3, sinh năm 1974; Nơi cư trú cuối cùng tại 292/17 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

Ngày chết được xác định là ngày 02/01/1986.

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2/ Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Bà Nguyễn Thị M (trên 60 tuổi) được miễn nộp tiền lệ phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

3/ Đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Cỡ chữ