vanban.org

Quyết định 307/2019/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc L.

Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Trần Anh T, bà Nguyễn Thị Ngọc L với ông Nguyễn Ngọc T1 theo Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 02/2013, quyển số I/2012, vào sổ đăng ký nuôi con nuôi ngày 04 tháng 7 năm 2013 của Ủy ban nhân dân phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Quyền và nghĩa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc L.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HẢI CHÂU TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 307/2019/QĐST-HNGĐHải Châu, ngày 29 tháng 10 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Khắc Tường

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Anh Đào

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ly Na - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 295/2019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2019 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 10/2019/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2019.

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông Trần Minh T – sinh năm 1961 (có mặt)

Bà Nguyễn Thị Ngọc L – sinh năm 1963 (có mặt)

Cùng địa chỉ: … Phan Kế Bính, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Ngọc T1 – sinh năm 2001 (có mặt).

Địa chỉ: … Phan Kế Bính, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

* Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 20 tháng 9 năm 2019 và tại phiên họp hôm nay ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc L trình bày:

Vào năm 2013 vợ chồng ông T, bà L có nhận anh Nguyễn Ngọc T1 – sinh ngày 11 tháng 3 năm 2001 (là cháu ruột gọi ông T, bà L bằng cô – dượng) về nuôi. Việc nuôi con nuôi được Ủy ban nhân dân phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng công nhận tại Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 02/2013, quyển số I/2012, vào sổ đăng ký nuôi con nuôi ngày 04 tháng 7 năm 2013.

Nay anh Nguyễn Ngọc T1 đã thành niên và muốn về với cha mẹ ruột, đồng thời vợ chồng ông T, bà L đã lớn tuổi, công việc không ổn định nên ông T và bà L đề nghị Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi với anh Nguyễn Ngọc T1.

* Tại đơn trình bày đề ngày 04 tháng 10 năm 2019 và tại phiên họp hôm nay anh Nguyễn Ngọc T1 trình bày:

Anh xác nhận mình có quan hệ cha mẹ nuôi, con nuôi cũng như quá trình chung sống, như ông như ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc L trình bày. Nay cha mẹ nuôi anh đã lớn tuổi, công việc không ổn định, anh đã thành niên và muốn về với cha mẹ ruột nên ông đồng ý chấm dứt việc nuôi con nuôi theo đơn yêu cầu của ông T, bà L.

Tại phiên họp ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc L vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với ông Nguyễn Ngọc T1.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: từ khi thụ lý việc dân sự cho đến phiên họp và tại phiên họp giải quyết việc dân sự, Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Các đương sự đã được đảm bảo các quyền và thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Việc nhận nuôi con nuôi giữa ông Trần Anh T, bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Nguyễn Ngọc T1 được Ủy ban nhân dân phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng công nhận tại Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 02/2013, quyển số I/2012, vào sổ đăng ký nuôi con nuôi ngày 04 tháng 7 năm 2013 là đúng quy định của pháp luật. Nay ông T1 đã thành niên, muốn về với cha mẹ ruột và đồng ý chấm dứt việc nuôi con nuôi. Do đó đề nghị Tòa án căn cứ Điều 369, 370 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 25, Điều 26, Điều 27 Luật nuôi con nuôi; Điều 78 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng nhận định:

Về tố tụng: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 10 Luật nuôi con nuôi; khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 điều 35 và điểm l khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Về nội dung: Thủ tục nhận nuôi con nuôi giữa ông Trần Anh T, bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Nguyễn Ngọc T1 được Ủy ban nhân dân phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng công nhận tại Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 02/2013, quyển số I/2012, vào sổ đăng ký nuôi con nuôi ngày 04 tháng 7 năm 2013. Do đó việc nuôi con nuôi giữa các bên đã được thực hiện là hợp pháp. Do đó được Nhà nước công nhận và bảo vệ.

Anh Nguyễn Ngọc T1 sinh ngày 03 tháng 9 năm 2001, như vậy tính đến nay người được nhận nuôi con nuôi là ông Nguyễn Ngọc T đã thành niên, có đủ năng lực hành vi dân sự. Mặt khác người được nhận nuôi con nuôi là ông Nguyễn Ngọc T1 cũng đồng ý với yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc L.

Xét thấy yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc L đối với anh Nguyễn Ngọc T1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật nuôi con nuôi năm 2010 nên được chấp nhận.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc L là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 5 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm l khoản 2 Điều 39; Điều 149, 361, 369, 370 và 372 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 78 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ Điều 10, 25, 26, 27 Luật nuôi con nuôi;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc L.

1. Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Trần Anh T, bà Nguyễn Thị Ngọc L với ông Nguyễn Ngọc T1 theo Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 02/2013, quyển số I/2012, vào sổ đăng ký nuôi con nuôi ngày 04 tháng 7 năm 2013 của Ủy ban nhân dân phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi, con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi này có hiệu lực pháp luật.

2. Về lệ phí tòa án: Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0008513 ngày 27.9.2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Ông Trần Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc L đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ