vanban.org

Quyết định 307/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn M.

Buộc ông Huỳnh Hữu Đ phải trả cho ông Huỳnh Văn M số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật. 4/ Về án phí ông Huỳnh Hữu Đ phải nộp 1.250.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Anh Huỳnh Văn Minh yêu cầu anh Huỳnh Hữu Đức trả số tiền vay 25.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi."
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 307/2018/DS-ST
Ngày: 02/10 /2018
V/ v tranh chấp “ Hợp đồng vay
tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Trung Trực.

2/ Ông Nguyễn Phúc Viễn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Trinh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo.

- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Bà Lý Nguyễn Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2018/TLST-DSST ngày 17/4/2018 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2018/QĐXX-ST ngày 29/8/2018 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1970 (có mặt)

Trú tại: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

* Bị đơn: Ông Huỳnh Hữu Đ, sinh năm 1974 (vắng mặt)

Trú tại: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, Bản khai, và tại phiên Tòa hôm nay, Ông Huỳnh Văn M trình bày:

Ngày 10/4/2016 Âm lịch, ông có cho Ông Huỳnh Hữu Đ vay số tiền 25.000.000 đồng có Biên nhận, không thoả thuận lãi suất, thời hạn trả thoả thuận miệng là 01 tháng, nhưng hết thời hạn ông Đ không trả số tiền trên. Ông có đến gặp ông Đ nhiều lần nhưng ông Đ vẫn không trả tiền. Nay ông yêu cầu Ông Đ trả cho ông số tiền 25.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất, yêu cầu trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.

Quá trình tố tụng, Toà án nhân dân huyện C đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng qui định nhưng ông Huỳnh Hữu Đ không nộp bản tự khai, các tài liệu, chứng cứ hoặc các văn bản thể hiện ý chí của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, ông vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng tại phiên toà hôm nay, ông cũng vắng mặt mà không vì sự việc bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên toà có ý kiến phát biểu:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, Thẩm phán và Thư ký chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, xét thấy việc Ông Huỳnh Văn M yêu cầu Ông Huỳnh Hữu Đ trả cho ông số tiền 25.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất, yêu cầu trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp “ Hợp đồng vay tài sản ” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo.

Về sự có mặt của đương sự: Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Huỳnh Hữu Đ theo đúng qui định và đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng tại phiên toà hôm nay, ông cũng vắng mặt mà không vì sự việc bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó Toà án xét xử vắng mặt ông theo quy định.

Về các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, ý kiến trình bày, tranh luận của đương sự và căn cứ giải quyết vụ án: Xét Biên nhận ngày 10/4/2016 Âm lịch thể hiện ông Huỳnh Hữu Đ có nhận của ông Huỳnh Văn M số tiền 25.000.000 đồng, không thể hiện thời hạn trả và lãi suất, tuy nhiên theo ông M các bên thoả thuận miệng thời hạn trả là 01 tháng. Sau khi vay ông Đ chưa trả cho ông M số tiền trên, nên còn nợ lại 25.000.000 đồng. Quá trình tố tụng, Toà án nhân dân huyện C đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng qui định nhưng ông Huỳnh Hữu Đ không nộp bản tự khai, các tài liệu, chứng cứ hoặc các văn bản thể hiện ý chí của mình đối với yêu cầu của ông M. Do đó việc Ông M yêu cầu Ông Đ trả số tiền 25.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất, yêu cầu trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận

[4] Về Điều luật áp dụng: áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 4 Điều 91, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều 468, Điều 470, Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nhận định ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C: Tại Tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án, Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Các đương sự không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Ông Đức phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 4 Điều 91, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều 468, Điều 470, Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn M.

Buộc ông Huỳnh Hữu Đ phải trả cho ông Huỳnh Văn M số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

4/ Về án phí ông Huỳnh Hữu Đ phải nộp 1.250.000 đồng.

Hoàn trả cho ông Huỳnh Văn M số tiền 625.000 đồng theo biên lai số 0014508 ngày 17/4/2018 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện C.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ông Huỳnh Văn M có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án, ông Huỳnh Hữu Đ có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh T xét xử theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ